Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013

Phận yểu của một "nữ hoàng"


LUAGAO - "Cơm tám ăn với chả chim/ Chồng đẹp, vợ đẹp những nhìn mà no". Tám xoan Hải Hậu (Nam Định), thứ thực phẩm cung tiến được ví von là nữ hoàng trong các loại gạo đặc sản Việt Nam, đang lâm vào cảnh yểu mệnh.

Hồi đế quốc Nhật bắt dân nhổ lúa trồng đay, dưới mũi lê, mũi súng của quân thù nông dân Hải Hậu vẫn lén cấy tám xoan, giữ lại giống lúa quý của tiên tổ. Hồi cả nước chạy theo cơn sốt năng suất để dẹp đi những cái bụng lép suốt ngày ùng ục sôi vì bo bo, mì hạt, nông dân Hải Hậu vẫn không bỏ giống lúa đặc sản nhưng năng suất được xếp vào hạng bét nhất: tám xoan của mình.

Những năm 70, 80 của thế kỷ trước, tám xoan phủ đều 35 xã thị trấn, chiếm đến phân nửa diện tích lúa. Đông về, heo may rét đài, rét ngọt cả Hải Hậu vương vấn trong mùi thơm của chim ngói, gạo tám.

Năm 2003, khi Hiệp hội Gạo tám xoan ra đời, Nam Định đã từng mơ một giấc mơ đẹp với một vùng lúa đặc sản rộng cả ngàn héc ta. Bà Hoàng Thị Nhẫn, Chủ tịch Hiệp hội Gạo tám xoan Hải Hậu, kể ngay năm 2004 đơn vị đã thu hút 439 hội viên tham gia với khoảng 200 mẫu ruộng ở các xã Hải Đường, Hải Anh, Hải Phong, Hải Toàn, Hải An dù giống này năng suất cực thấp chỉ đạt 1 tạ/sào.

Hiệu quả không có, người dân thu hẹp diện tích cấy lúa tám xoan

Được gặt non khi chín sáp tám phần cuối bông lúa còn có những hạt dạng sữa, được ngưng phơi khi tám phần khô, được xay xát tám phần khi hạt gạo còn hơi ngà xanh chứ không bóc sạch lớp cám dưỡng chất thành trắng nõn, chính vì thế “nữ hoàng” mới có tên lúa tám.

Năm Hiệp hội của bà Nhẫn tổ chức hội thử nếm để quảng bá gạo tám xoan, thức ăn thừa ê hề trong khi cơm hết nhẵn không còn một hột. Lắm người Thủ đô hẳn hoi, chẳng ngại ngần ngồi bệt xó bếp, rồn rột vét nồi, gói ghém mang về vừa đi vừa ăn nhỏn nhẻn đầy dè xẻn như một thứ trân quý để đời.

Đằng sau cái vương miện lấp lánh trên đầu “nữ hoàng” là cả một sự cầu kỳ đến kinh ngạc. Tám vốn họ nhà cảm quang ưa ánh nắng nên gặp lúc thời tiết ngày nắng, đêm sương cho năng suất rất khá (1,2-1,3 tạ/sào) nhưng khi nấu lên, miếng cơm trong mồm cứ khô roong như nấu bằng gạo thường.

Hồi năm 2004, khi Hiệp hội Gạo tám xoan mới còn trứng nước đã xảy ra vụ tí vỡ nợ vì thu mua thóc của dân với giá đặc sản rồi bán với giá gạo… Khang Dân bởi lý do năng suất cao này. Bà con cổ phần bằng thóc cứ ùn ùn kéo đến lấy lĩnh tiền, còn hội trưởng, hội phó mặt bạc đi còn hơn cả gạo năm bão vì lỗ một khoản tiền lớn.

Tám xoan ưa phân chuồng, phân xanh, ưa nước phù sa mát rượi từ sông Ninh Cơ mỗi vụ cả 15-23 đợt bồi đắp. Từ hồi thủy điện giữ nước, sông cạn trong leo lẻo, từ hồi dân chỉ quen bón phân hóa học mà quên phân chuồng, phân xanh, chất lượng gạo tám xoan kém đi trông thấy.

Mùi thơm của tám còn phụ thuộc vào… gió trời. Chỉ những năm có gió mùa thì lúa tám xoan mới có được mùi thơm đặc trưng còn không hương của nó phai nhạt đi rất nhiều.

Đến công đoạn phơi phóng, cất trữ, xay xát sự cầu kỳ của tám lại được đẩy lên một mức mới. Xưa các cụ phơi thóc tám trong chiếu cói, khi nắng gắt hốt hả gập hai mép chiếu để giữ lại vị thơm chứ không phơi trên sân bê tông hầm hập nóng như bây giờ.

Thóc phơi xong bảo quản bằng chum, vò sành, trên lót lá xoan khô rồi đậy kín nắp để tránh hư hao hương. Thóc được giã bằng cối để tách vỏ trấu sao cho hạt gạo vẫn còn mát chứ không xát trong máy nóng hừng hực bay hết cả mùi. Hiệp hội của bà Nhẫn cũng thử nghiệm xay bằng tay được một năm phải bỏ vì cầu kỳ quá nên giờ chỉ tách vỏ bằng máy và giã cối chạy bằng mô tơ.

Gạo tám từ lúc xát ra để được cùng lắm 20 ngày là sinh mốc vì dưỡng chất trong nó tự phân hủy. Cách nấu cơm tám cũng rất đặc biệt. Nồi gang mà chuẩn chỉ nhất là nồi đất đun đến lúc cạn nước rồi vùi luôn trong rơm tám cho đến lúc chín.

Nấu cơm bằng nước máy có nhiều clo khử trùng, lại dùng nồi cơm điện có lỗ thông hơi, mùi hương đặc trưng này sẽ hư hao gần hết. Đến ngay cả lúc ăn cơm tám cũng không như cơm thường mà phải chọn kỹ đối tác theo nó. Ăn cùng món xào hay chan canh sẽ mất hết vị ngon, dẻo của gạo mà đúng điệu nhất là ăn với giò lụa, chả quế, cá kho.

Nông dân không còn chuộng lúa tám xoan

Khó tính, khó chiều, hiệu quả kinh tế kém (năng suất 1 tạ, giá bán thóc 12.000đ/kg trong khi Bắc Thơm số 7 năng suất 2 tạ, giá bán 7.000đ/kg mà chỉ ba tháng là thu hoạch) khiến cho số hội viên gạo tám thui chột dần còn 200 người.

Diện tích cấy tám xoan cũng teo tóp còn 100 mẫu, co cụm ở Hải Đường, Hải Anh những xã vùng trũng, không cấy được mạ sân mà phải cấy mạ dược dài cây như tám xoan để tránh ốc bươu vàng tàn phá.

Do vậy, Hiệp hội mỗi năm chỉ thu mua được 60 tấn thóc sản xuất được một lượng chừng 35 tấn gạo. Trong khi ngay cả dân bản địa mũi còn hiếm khi gửi thấy mùi tám xoan đích thực thì ở các thành phố lớn, người ta lại thấy tám xoan Hải Hậu bán nhiều nhan nhản, nhiều đến phát nản như đại dịch…ốc bươu vàng.


Một lần bà Chủ tịch Hiệp hội Gạo tám xoan Hải Hậu ra thăm thân ở Hà Nội qua chợ xanh Định Công thấy cái biển “Gạo tám xoan Hải Hậu gặt non, giã thủ công”, lấy địa chỉ ngay xóm 14 xã Hải Anh, lấy tên và số điện thoại ngay của đơn vị mình.

Tò mò vào, vốc gạo trên tay bà Nhẫn không phải là thứ đặc sản quê mình mà chỉ là một loại gạo thơm nào đó. Lại có nhiều bận, người ta gọi điện từ Hải Phòng, Quảng Ninh về cho bà, trách rằng gạo đặc sản mà ăn chẳng kém gạo nấu rượu, xót lắm mới trả lời: “Chúng tôi không bán ở thị trường ấy thì làm sao có gạo tám xoan xịn được?”.

Nhiều đại lý bán hàng cho Hiệp hội thời gian đầu làm ăn tử tế rồi chơi bài gạo…trộn. Giã bỏ đại lý, gạo tám dò dẫm tìm kênh phân phối lớn. Đã từng đưa gạo tám vào Metro và tập đoàn Phú Thái nhưng được một thời gian ngắn, cuộc “hôn phối” ấy sớm đi vào ngõ cụt khi nông dân không chịu thấu cảnh cứ cuối tháng siêu thị lại giảm giá mạnh để đẩy hàng bởi sản phẩm này thường không bảo quản được quá 30 ngày.

Một dạo TCty Lương thực miền Bắc cũng tổ chức thu mua gạo tám xoan cho đơn vị, chẳng hiểu sao năm 2013 chỉ được vài tạ rồi thôi. Giờ gần như gạo tám chỉ được bán ở mỗi địa chỉ duy nhất là trụ sở của Hiệp hội ở xã Hải Anh mà không phải mùa nào, lúc nào cũng mua được.

Thóc tám để từ tháng mười âm đến tháng hai sang năm dù khách xa có nài nỉ mấy Hiệp hội cũng không dám bán vì sợ…ảnh hưởng đến thương hiệu bởi lúc đó “độ nhựa” trong gạo đã giảm, mùi thơm gần như đã kiệt.

Anh Phạm Văn Đông, Hiệp hội Gạo tám xoan, bảo rằng giá thu mua thấp, năng suất chưa bằng một nửa lúa thường, thời gian canh tác lại dài gấp đôi khiến cho những người trồng tám thực sự nản.

Trong đề án phát triển nông nghiệp, Hải Hậu từng đặt mục tiêu phát triển 1.500 ha nhưng với tình trạng hiện tại, người ta không dám chắc dăm ba năm nữa, diện tích tám của địa phương này trồng có đủ để biếu một vài đoàn cán bộ về thăm?

Đặc trưng của gạo tám xoan là màu trắng, trong xanh, hơi dài, thon nhỏ, vẹo một đầu, hạt căng bóng, cơm dẻo, vị ngọt hậu thanh tao.

Theo Báo NNVN

Thứ Năm, 30 tháng 5, 2013

Lúa đỏ hồi sinh

LUAGAO - Sau một thời gian vắng bóng trên đồng ruộng ven cửa sông, đầm phá của huyện Quảng Điền (TT- Huế), giống lúa cho gạo đỏ đã hồi sinh. Tuy sản lượng ít nhưng lúa đỏ không phải dùng thuốc, chi phí đầu tư thấp, giá gạo cao đang hứa hẹn cho nông dân một mùa vụ mới bội thu.

Đầm phá sống lại

Lúa đỏ một thời gắn với những vùng chân đất chua mặn, thấp trũng ven cửa sông, đầm phá của huyện Quảng Điền khi người dân đến định cư, khai canh lập địa, nó là nguồn lương thực không thể thiếu. Quảng Điền là huyện thuộc vùng trọng điểm SX lúa của tỉnh TT- Huế. Diện tích gieo cấy lúa hằng năm khoảng 7.000 ha, trong đó có 350 ha vùng ô trũng ven phá Tam Giang, tập trung ở hai xã Quảng Lợi và Quảng Thái.

Đây là những vùng chân đất chua mặn, trước đây nông dân chủ yếu cấy giống lúa địa phương (gạo đỏ). Mặc dù năng suất không cao, nhưng chi phí đầu tư thấp, ít sâu bệnh, không sử dụng thuốc BVTV nên có thể coi đây là sản phẩm gạo an toàn phù hợp với nhu cầu thị trường.

Lúa đỏ chống chịu tốt, không dùng thuốc BVTV, gạo sạch đang mở ra hướng đi cho 
nông dân Quảng Điền

Ông Hoàng Thảo, Phó Chủ tịch UBND xã Quảng Lợi cho biết: “Trước năm 1993, địa phương có khoảng 150 ha lúa cho gạo đỏ, chủ yếu tập trung ở vùng ô biền, thấp trũng. Qua thời gian, bà con nông dân đưa vào canh tác nhiều giống lúa mới năng suất cao hơn. Đến năm 2010, được sự hỗ trợ của Trường ĐH Nông lâm Huế về giống, phân bón và phổ biến kỹ thuật trồng gạo đỏ cho bà con nông dân, đưa vào phục tráng thử nghiệm với diện tích 1 ha.

Qua quá trình khảo nghiệm cho thấy, giống lúa đỏ có các đặc tính như cao cây, sinh trưởng và phát triển khá tốt trên chân đất chua mặn. Chiều cao trung bình 120 - 130 cm, phiến lá to, hạt có màu vàng cháy, bông dài, gié thưa, gạo màu đỏ, trọng lượng 1.000 hạt 25 - 26 gr, chất lượng gạo ngon, chịu chua mặn, ít sâu bệnh. Năng suất trung bình 150 - 170 kg/sào, thâm canh tốt đạt 190 - 200 kg/sào. Thời gian sinh trưởng 175 - 180 ngày, do đó chỉ thích hợp gieo cấy vụ ĐX”.

Vụ ĐX năm 2013, HTX Thắng Lợi (xã Quảng Lợi) đã đưa vào SX 7 ha lúa đỏ với 20 hộ dân tham gia trồng chủ yếu ở thôn Cổ Tháp, trong đó, có mô hình cá - lúa đỏ - vịt. Dự kiến, trong năm 2014 sẽ đưa vào trồng thêm 7 ha nữa và năm 2015 sẽ phát triển lên 30 ha. Đặc biệt, Quảng Lợi đã đưa vào trồng thử nghiệm với diện tích 4 sào lúa đỏ ở vùng rú cát cho thấy cây sinh trưởng phát triển tốt, thích ứng với đặc tính vùng đất này.

Bên cạnh đó, chương trình MTQG xây dựng NTM cũng đã hỗ trợ cho địa phương 255 triệu đồng thực hiện mô hình cá - lúa đỏ - vịt. Ông Hồ Xuân Trang, một hộ dân trồng lúa đỏ ở Quảng Lợi cho biết: “Gạo đỏ bà con trồng đã lâu, qua thời gian đưa vào SX giống lúa mới nên dần dần bà con ít trồng. Nay được hỗ trợ của UBND xã, tui đưa vào trồng 1 ha lúa đỏ, kết hợp với mô hình cá - vịt.

Tuy năng suất lúa thấp, từ 25 - 30 tạ/ha, nhưng lúa đỏ có khả năng chống chịu tốt, ít sâu bệnh, không phải dùng thuốc BVTV và đặc biệt, giá thành bán ra gấp 2 - 3 lần so với các giống lúa khác, trừ chi phí cũng lãi vài chục triệu đồng”.

Thương hiệu "Gạo đỏ Quảng Điền"
Không chỉ giá thành cao, gạo đỏ Quảng Điền còn có nguồn dinh dưỡng cao, có tác dụng về mặt y học. Thường được dùng bồi bổ cho người bệnh khi đau ốm. Để hướng gạo truyền thống ra thị trường, vừa qua, UBND tỉnh TT-Huế đã có quyết định cho Hội Nông dân huyện Quảng Điền lấy địa danh Quảng Điền làm thương hiệu gạo đỏ mang tên địa phương này.


Ông Nguyễn Văn Quang, Trạm trưởng Trạm Khuyến nông lâm ngư huyện Quảng Điền cho biết: “Thực hiện chủ trương của UBND huyện về việc khôi phục và mở rộng diện tích SX giống lúa gạo đỏ để từng bước xây dựng thương hiệu gạo an toàn của Quảng Lợi, Quảng Thái tiến tới SX theo hướng hàng hoá. Với những thành công bước đầu từ mô hình thử nghiệm tại xã Quảng Lợi, vụ ĐX 2012 -2013, Phòng Công thương huyện Quảng Điền phối hợp với Trạm Khuyến nông lâm ngư thực hiện mô hình “Khôi phục và mở rộng sản xuất lúa địa phương (gạo đỏ)”.

Theo đó, đã đưa vào trồng 2 ha lúa gạo đỏ tại HTX Tam Giang (xã Quảng Thái). Quá trình khảo nghiệm cho thấy, giống lúa này có khả năng chống chịu sâu bệnh rất tốt, không phải sử dụng thuốc BVTV và hầu như không bị nhiễm bệnh. Gạo đỏ đang được thị trường rất ưa chuộng, giá bán cao gấp 2 - 3 lần so với các loại gạo khác”. Ông Quang cho biết thêm, để hướng tới SX bền vững hơn, ngành chức năng cần có sự hỗ trợ cho người nông dân phát triển thêm diện tích lúa đỏ, tìm kiếm đầu ra bền vững cho sản phẩm.

Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2013

Phân bón cho lúa vụ hè thu

LUAGAO - NHỮNG KHÁC BIỆT LÚA ĐÔNG XUÂN VÀ HÈ THU

ĐBSCL hiện có khoảng 1,7 triệu ha đất trồng lúa, trong đó diện tích lúa 3 vụ/năm (ĐX, HT và TĐ) khoảng 600.000 ha, diện tích làm lúa 1 vụ/năm (chủ yếu ven biển) khoảng 100.000 ha và khoảng 1 triệu ha trồng 2 vụ lúa/năm với 2 vụ chính là ĐX và HT.

Vụ ĐX xuống giống vào khoảng tháng 11 - 12 năm trước, thu hoạch vào tháng 3 - 4 năm sau. Đây là vụ lúa có năng suất và hiệu quả nhất bởi hội tụ được các điều kiện tự nhiên tối thích cho các quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa. Vụ HT tiếp theo vụ ĐX nhưng phải căn ke sao cho thời điểm thu hoạch lúa vụ này không quá 15/8, bởi sau thời điểm đấy rất dễ bị lụt.

Bị bó hẹp trong khung thời vụ như thế nên so với vụ ĐX, lúa vụ HT có những bất lợi sau:

- Phải xuống giống trong điều kiện nắng nóng xen kẽ với những cơn mưa đầu mùa nên rất dễ bị xì phèn.

- Không có đủ thời gian để phơi đất, cày ải nên rất dễ bị nhiễm độc hữu cơ.

- Cây sinh trưởng trong điều kiện mùa mưa, trời nhiều mây, lượng bức xạ kém, chênh lệch nhiệt độ ngày đêm không cao nên năng suất lúa không cao.

- Nắng nóng và mưa nhiều nên dễ thất thoát phân bón

NHỮNG LƯU Ý KHI BÓN PHÂN VỤ HT

Bởi có những bất lợi như trên nên so với lúa vụ ĐX, việc bón phân cho lúa vụ HT cũng những điểm khác biệt và lưu ý như sau:

- Nhu cầu phân bón, nhất là phân đạm cho lúa vụ HT thấp hơn vụ ĐX. Thông thường để đạt năng suất từ 6,5 tấn/ha trở lên, lúa vụ ĐX ở ĐBSCL cần bón 90 - 100 kg N (tương đương khoảng 195 - 215 kg urê) thì lúa vụ HT chỉ cần bón 75 - 85 kg N (tương đương khoảng 165 - 185 kg urê).

- Cần bón nhiều phân lân hơn: Với lúa vụ ĐX chỉ cần bón 35 - 40 kg P2O5 (tương đương khoảng 215 - 250 kg lân supe) nhưng với lúa vụ HT phải bón nhiều lân hơn bởi đất dễ bị xì phèn khiến cho một lượng lân không nhỏ khi gặp các cation Al và Fe sẽ bị biến thành dạng khó tiêu. Lượng khuyến cáo là 40 - 50 kg P2O5 (tương đương khoảng 250 - 315 kg lân supe), thậm chí trên đất phèn nặng phải bón tới 60 kg P2O5 (tương đương khoảng 375 kg lân supe).

- Lượng phân kali có thể giữ nguyên như lượng bón cho lúa vụ ĐX (40 - 45 kg K2O, tương đương 65 - 75 kg KCl).

- Trên chân đất phèn nặng như Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên có thể phải bón thêm vôi với liều lượng khoảng 200 - 300 kg/ha.

- Cần cảnh giác với việc bón thừa phân đạm: Do trời nóng, hạn nên nhiều khi bón phân đạm nhưng không thấy hiệu quả rõ rệt nên dễ lầm tưởng rằng bón ít nên bón bổ sung thêm. Hệ quả là dư đạm và cây sẽ bộc phát khi có mưa.

ĐẦU TRÂU - PHÂN HIỆU QUẢ NHẤT VỤ HT

Do các đặc điểm thời tiết và sinh lý cây trồng như đã nói ở trên giá thành lúa vụ HT thường cao. Để người nông dân có được lợi nhuận thì việc giảm chi phí, trong đó chi phí về phân bón là quan trọng bởi phân bón chiếm tới 30 - 35% tổng chi phí.

Lấy ví dụ, với urê bình thường thì lượng sử dụng bình quân cho mỗi ha là khoảng 175 kg, nhưng nếu dùng phân đạm hạt vàng Đầu trâu 46A+ của Bình Điền thì chỉ cần 130 kg, giảm 35 kg. Giảm phân nhưng năng suất vẫn không giảm nhờ trong đạm hạt vàng 46A+ có hoạt chất Agrotain, chống được việc thất thoát đạm do bay hơi.

Tương tự nếu dùng DAP thông thường thì cần khoảng 100 kg/ha nhưng nếu dùng Lân Đầu trâu 46P+ thì chỉ cần 75 kg bởi trong Lân Đầu trâu 46P+ có hoạt chất Avail ngăn cản quá trình tiếp xúc giữa các cation Al, FE với HPO4 nên việc cố định Lân bởi phèn đã không xảy ra. Agrotain và Avail đều là thành tựu nông hóa mới nhất của Mỹ được Bình Điền độc quyền nhập khẩu ở VN và Đông Nam Á.

Những năm trước năm 2000, nông dân ĐBSCL ven sông Tiền, sông Hậu rất chuộng dùng phân NPK 16.16.8.13S của Philippines nhờ tính hiệu quả cao của nó. Tuy nhiên việc có hàm lượng lưu huỳnh cao trong phân đã tích lũy đáng kể lượng lưu huỳnh trong đất gây ngộ độc cho cây nên hiệu quả NPK16.16.8.13S giảm dần. Khắc phục tồn tại trên, Bình Điền có công nghệ sản xuất urê hóa lỏng, hàm lượng S trong phân giảm xuống chỉ còn dưới 5%.

Tiếp thu nhanh thành tựu mới của kỹ nghệ nông hóa của các nước phát triển, Bình Điền đã SX cho ra sản phẩm phân chuyên dùng Lúa 1, Lúa 2 bón cho lúa HT rất có hiệu quả bởi ngoài Agrotain và Avail, còn sử dụng Penax, sản phẩm của Cộng hòa liên bang Đức khiến cho tính chống chịu của Lúa tốt hơn trong điều kiện thời tiết khó khăn.

Công ty CP Phân bón Bình Điền đã tham gia tài trợ cho nhiều cánh đồng mẫu lớn suốt từ Bắc tới Nam. Chỉ riêng từ Bình Thuận trở vào, diện tích cánh đồng mẫu lớn do Bình Điền tài trợ đã lên tới 8.000 ha.

Thực tiễn chỉ đạo kỹ thuật bón phân ở các mô hình cánh đồng mẫu lớn ở Tây Ninh, khu vực sông Vàm Cỏ giáp với Long An, các nhà nông và các kỹ sư Bình Điền rút ra kinh nghiệm, đối với những ruộng bị nhiễm phèn nặng thì trong 2 lần bón 1 và 2 nên giảm 3 kg phân chuyên dùng lúa 1 và thêm vào 3 kg Lân Đầu trâu 46P+ thì hiệu quả sẽ cao hơn.

(Diễn giả: TS Chu Văn Hách, Viện Nghiên cứu Lúa ĐBSCL; TS Đỗ Minh Nhựt, PGĐ Sở NN-PTNT Kiên Giang; ThS. Phan Văn Tâm, Cty CP Phân bón Bình Điền)

Theo Báo NNVN

Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013

ỐC BƯƠU VÀNG

LUAGAO - Ốc bươu vàng (OBV) là dịch hại ngoại lai, nguồn gốc từ Nam Mỹ, du nhập vào Việt Nam khoảng năm 1985, thiệt hại ghi nhận đầu tiên vào năm 1994 tại Kiên Giang và TP.HCM. Đến nay, OBV đã lan tràn và gây hại nặng trên các vùng trồng lúa cả nước. OBV chỉ sống trong điều kiện nước ngọt, ruộng chua, phèn, độ pH < 4 hay độ mặn > 0,6% ốc không sống được. OBV gây hại bằng cách cắn đứt mạ từ khi sạ đến khoảng 20 ngày sau. Ruộng sạ hại nặng hơn ruộng cấy. OBV có tính đực, cái phân biệt, tỷ lệ đực/cái khoảng 3/7. Vòng đời (đẻ – bắt cặp – đẻ lại) khoảng 3 tháng, tuy nhiên ốc có thể sống tới 3 năm. Trứng được đẻ trên cao, ổ trứng có màu hồng tươi, khi sắp nở có màu hồng nhạt, 1 ổ có khoảng 150 – 300 trứng, tỷ lệ nở 90 – 95%. Trung bình 1 OBV cái có thể đẻ 500 – 1000 trứng/tháng. OBV sống và gây hại chủ yếu trong nước, tuy nhiên ốc cũng có thể sống trên cạn, trong điều kiện bất lợi (khô hạn) ốc vùi mình xuống đất từ 5 – 30 cm, khi có điều kiện thuận lợi (ruộng có nước) ốc trồi lên cắn phá trở lại. OBV có thể gây hại suốt ngày đêm, tuy nhiên thường gây hại chủ yếu vào chiều – tối. Thiên địch của OBV là kiến, chim, chuột, vịt, rắn, cá… và con người.

Để trừ ốc hiệu quả lâu dài, cần thiết phải áp dụng nhiều biện pháp mang tính tổng hợp chứ không dựa vào một vài biện pháp riêng lẻ và cần phải làm sớm từ đầu vụ, làm liên tục, rộng khắp. Các biện pháp bao gồm:

1. Đặt lưới mắt cáo bằng kim loại hay bằng lưới nylon hay bằng tre nứa ở cống, bọng dẫn nước để ngăn chận ốc lây lan đồng thời dễ thu gom. Nên đặt lưới sớm ngay từ đầu vụ đến khi thu hoạch.

2. Bắt ốc bằng tay. Nên bắt ốc sớm và liên tục từ lúc sạ đến 2, 3 tuần sau, nên làm lúc sáng sớm hay chiều mát. Ốc thu gom có thể dùng để ăn hay bán cho các trại nuôi vịt, nuôi cá bè, nuôi tôm, hay làm phân bón.

3. Vét rãnh trên ruộngđể khi tháo nước, ốc gom xuống rãnh dễ thu gom.

4. Cắm cọcrải rác trên ruộng để ốc lên đẻ rồi thu gom trứng bằng tay.

5. Thả vịt ăn ốc: Sau thu hoạch thả vịt ăn ốc để hạn chế mật số ốc lứa sau.

6. Ở nhiều nơi nông dân có kinh nghiệm không đưa nước vào ruộng sớm, chỉ giữ ruộng đủ ẩm, để hạn chế OBV di chuyển và gây hại. Giai đoạn chuẩn bị làm đất nếu cày bừa kỷ, cày sâu thì có thể diệt được OBV nằm vùi dưới ruộng. Ở nhiều nơi sau khi thu hoạch, bà con cày lật ngay để hạn chế OBV lứa sau.

7. Cho nước vào ruộng sớm (trước khi sạ)để nhử ốc trồi lên, sau đó cày diệt ốc.

8. Ở nhiều nơi bà con còn dùng cây xương rồng, cành lá đu đủ, lá thầu dầu, lá mướp, xơ mít, thân lá khoai mì … chặt thả xuống nước, nhựa cây dẫn dụ ốc làm ốc say, nổi lên mực nước giúp thu nhặt ốc dễ dàng hơn.

9. Sử dụng thuốc đặc trị Ốc Bươu Vàng