Thứ Hai, 18 tháng 5, 2009

LC25 - giống lúa lai thương hiệu Lào Cai

LUAGAO - Bộ NN-PTNT vừa có quyết định công nhận giống lúa lai 3 dòng LC25 do Trung tâm giống NLN Lào Cai phối hợp với Cty Lục Đan (Trung Quốc) chọn tạo, SX thành công và cho phép các tỉnh phía Bắc tổ chức SX thử từ vụ xuân 2009. Lần đầu tiên trung tâm giống của một tỉnh miền núi đã hợp tác với một tổ chức nước ngoài chọn tạo thành công một giống lúa lai mới, mang “thương hiệu” LC25 của Lào Cai…

Năm 2006 Trung tâm giống nông lâm nghiệp Lào Cai (TTG Lào Cai) được Bộ NN-PTNT và tỉnh Lào Cai cho phép, đã hợp tác với Cty Lục Đan (Tứ Xuyên, TQ) chọn tạo những giống lúa lai từ những cặp bố mẹ có nguồn gốc từ TQ cho năng suất, chất lượng cao thích nghi với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của Việt Nam. Với 12 dòng mẹ, 29 dòng bố đã lai tạo được hơn 300 tổ hợp lai. Tuy nhiên, do điều kiện kinh phí của một tỉnh miền núi còn gặp nhiều khó khăn như Lào Cai, nên TTG chỉ chọn một số cặp lai có ưu thế, đó là các cặp lai 3 dòng: LC368, LC25 và cặp lai 2 dòng: LC212, LC270.

Các giống lúa này sau khi được TTG Lào Cai gửi mẫu khảo kiểm nghiệm gieo trồng tại Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và phân bón quốc gia, thấy giống có ưu thế nổi trội nhất là LC25. Giống lúa LC25 có chỉ tiêu: thời gian sinh trưởng vụ xuân 120-125 ngày, vụ mùa 105-110 ngày, năng suất bình quân 65-75 tạ/ha. Đây là giống lúa có năng suất cao, cơm thơm và ngon, thời gian sinh trưởng ngắn so với một số giống lúa khác, nên rất phù hợp với những địa phương tổ chức SX vụ đông.

Việc tổ chức SX hạt lai F1 LC25 được tiến hành ở các địa phương: Bản Qua (Bát Xát), Võ Lao (Văn Bàn), năm 2007 TTG Lào Cai SX được gần 10 tấn hạt lai F1, năm 2008 SX được 12 tấn hạt lai. Để đáp ứng nhu cầu của bà con nông dân Lào Cai cũng như một số địa phương khác, vụ xuân 2009 TTG Lào Cai tổ chức SX hạt lai với diện tích gần 40 ha, năng suất trung bình đạt 33,12 tạ/ha, sản lượng dự kiến 100 tấn giống LC25.

Ngay từ vụ mùa 2007, TTG Lào Cai đã tổ chức cấy khảo nghiệm tại các huyện Bắc Hà, Bảo Yên, Bảo Thắng, Văn Bàn (Lào Cai) và các tỉnh: Yên Bái, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Giang... bằng giống LC25. Năng suất đều đạt từ 62-72 tạ/ha, nhiều địa phương đạt 80 tạ/ha. So sánh với các giống lúa đối chứng: Nhị ưu 838, VL20… thì giống lúa LC25 có khả năng chống chịu sâu bệnh cao, năng suất và chất lượng gạo ngon hơn hẳn các giống lúa đối chứng.

Ông Nguyễn Thanh Lâm- PGĐ TTKN Quốc gia:
"Sản xuất giống lúa lai đòi hỏi công nghệ cao và tốn kém rất nhiều tiền bạc, Lào Cai là một tỉnh nghèo nhưng đã dành một phần kinh phí đáng kể cho việc nghiên cứu, chọn tạo và tổ chức SX thành công giống lúa LC25 là việc làm rất đáng biểu dương. Có cơ quan nghiên cứu giống lai F1 thành công, nhưng khi đưa ra SX thì thất bại. Lào Cai là tỉnh mở đầu trong việc hợp tác quốc tế trong việc nghiên cứu, chọn tạo và SX giống lúa lai. Với bước đi tổ chức chọn tạo, SX trước nghiên cứu sau, giống lúa LC25 có được hôm nay, chính là sự thành công của TTG Lào Cai trong việc SX giống…".
Bà Nguyễn Thị Xuân - Phú Nhuận, H. Bảo Thắng - Lào Cai cho biết: Từ vụ xuân 2008 đến nay gia đình tôi đều cấy giống lúa LC25, năng suất đạt từ 220 - 250 kg/sào. Đặc biệt giống lúa này ít bị sâu bệnh, mọi năm gia đình tôi cấy giống lúa Nhị ưu 838 mỗi vụ phải phun thuốc từ 3-4 lần, còn giống lúa LC25 vụ nào phun nhiều nhất thì hai lần, thường gia đình tôi chỉ phun một lần. Ông Bùi Đức Thưởng (Phú Nhuận, Bảo Thắng) không ngần ngại: Bà con nông dân thôn Phú An 2 thích giống lúa LC25 vì giống lúa này đẻ nhánh nhiều, trung bình mỗi khóm 6-7 nhánh, cây cứng không bị đổ và kháng bệnh bạc lá và khô vằn, năng suất những hộ chăm sóc tốt vụ xuân đạt 2,8tạ/sào, vụ mùa đạt 2,5 tạ/sào…
Ông Nguyễn Đức Phương- TTG Nghệ An cho biết: Năm 2007 TTG Nghệ An đã tổ chức trồng khảo nghiệm giống lúa LC25 tại khu vực Yên Thành, năng suất đạt từ 6,5-7tấn/ha. Vụ xuân 2009 chúng tôi cấy 3 ha giống lúa LC25, năng suất đạt 7,2 tấn/ha, so với giống lúa Nhị ưu 838, năng suất giống lúa LC25 cao hơn 10%.
Ngày 15/5/2009 TTG Lào Cai tổ chức Hội nghị đánh giá kết quả SX hạt lai F1 tổ hợp lai 3 dòng LC25, với sự có mặt của các nhà khoa học ở các Vụ, Viện, Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư quốc gia thuộc Bộ NN-PTNT, các Trung tâm SX giống một số địa phương cùng đại biểu bà con nông dân tham gia SX giống và sử dụng giống lúa LC25. Các nhà khoa học và bà con nông dân đều đánh giá giống lúa LC25 có năng suất, chất lượng cao. Ông Phạm Đình Quê, PGĐ Sở NN-PTNT Lào Cai cho biết: Cty Lục Đan (Tứ Xuyên-TQ) dự kiến cùng với Lào Cai xây dựng thành vùng SX giống, để cung cấp giống cho nông dân Việt Nam...
Thái Sinh

3 giảm, 3 tăng: Giải pháp khoa học giúp thâm canh lúa bền vững

LUAGAO - Những bất cập trong thâm canh lúa
Sự cần thiết thâm canh lúa

- Có thể nói nhiều người trên thế giới trước đây biết đến VN vì chúng ta dám đánh Mỹ và thắng Mỹ, còn ngày nay biết đến VN vì chúng ta đã vượt qua thiếu đói trở thành cường quốc xuất khẩu gạo. Hai thập kỷ thâm canh cây lúa, người VN đã làm thế giới ngạc nhiên về sức sáng tạo, kiên trì trong việc nghiên cứu, chuyển giao, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trên cây lúa mà cho đến nay vẫn chưa được các nước trong khu vực nghĩ tới. Cùng với sự đầu tư về thủy lợi, sức sáng tạo của người VN đã đưa năng suất lúa bình quân từ 3,298 T/ha năm 1990 lên 4,98 T/ha vào năm 2007.
- Riêng vụ ĐX năng suất đã tăng từ 3,6 T/ha lên 5,71 T/ha, đặc biệt vùng SX lúa trọng điểm ĐBSCL năng suất một số tỉnh đã đạt gần 6,5 T/ha. Các TBKT bắt đầu từ công tác nghiên cứu lai tạo, nhập nội các giống lúa ngắn ngày từ những vật liệu khởi đầu được Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) gửi sang.
- Song song nhiều giải pháp về canh tác học ra đời hỗ trợ thêm cho bà con nông dân giúp chuyển dần từ cấy sang gieo sạ thẳng. Phân bón hóa học và thuốc diệt cỏ, thuốc BVTV cũng góp phần rất lớn làm gia tăng dần năng suất không những cho lúa và nhiều loại cây trồng khác, nhờ vậy giá trị mà ngành trồng trọt mang lại đã tăng từ 49.604 tỷ đồng lên 114.333 tỷ đồng (giá so sánh 1994). Hai mươi năm qua, chúng ta chưa bao giờ bị mất mùa tuy vẫn có những thiệt hại do sâu bệnh, thiên tai nhưng an ninh lương thực được giữ vững và liên tục giữ vị trí thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo.
- So với các nước, VN chúng ta là nước nông nghiệp nhưng bình quân lại ít đất nông nghiệp nhất, dân tộc ta có nghề truyền thống trồng lúa nước nhưng bình quân lại có ít đất trồng lúa nhất. Thử so sánh, VN chúng ta hiện có trên 86,5 triệu dân nhưng chỉ có gần 4,2 triệu ha đất trồng lúa, bình quân chỉ 485 m2/người, còn Thái Lan có 63 triệu dân nhưng có tới 9,6 triệu ha trồng lúa nên bình quân của họ tới 1.500 m2/người, gấp hơn 3 lần chúng ta. VN hiện nay được xếp thứ 13 về dân số mà chưa kể đến mỗi năm lại có thêm 1 triệu trẻ em chào đời. Mật độ dân số chúng ta rất cao, cao gấp 2 lần so với Trung Quốc, gấp 6,7 lần so với quy chuẩn của thế giới. Đất chật, người đông nên việc thâm canh, tăng vụ là tất nhiên. Nhờ thâm canh mà giá trị sản lượng lúa trên 1 ha bình quân của ta đạt 1.300 USD/ha/năm (lấy giá gạo 400 USD/T), còn Thái Lan chỉ đạt 900 USD/ha/năm (lấy giá gạo 550 USD/T).

Những bất cập trong thâm canh lúa

- Tuy nhiên sự phát triển nào cũng cần theo qui luật, nếu vượt ra ngoài các qui luật đó thì không những sản xuất không đạt yêu cầu mà còn bị thiệt hại lớn. Trong thập niên 90, chế độ thâm canh cao cây lúa đã bộc lộ rõ nhiều nhược điểm, một số kỹ thuật áp dụng của bà con nông dân đã vượt qua các giới hạn thúc đẩy sự tiến hóa của sâu bệnh nhanh hơn sự phát triển ra các giống mới, lần lượt các gen kháng trong cây lúa đã bị phá vỡ và thế là dịch hại xảy ra liên tục.
- Nhóm nghiên cứu về lúa thâm canh ở IRRI gồm có T.W. Mew, Paul S Teng, Cassman, R. Zeigler*, KL.Heong, S.Savary cũng đã đề xuất ra nhiều giải pháp trong đó có việc hạn chế ngay việc sử dụng phân đạm liều lượng bón cao vì sẽ gây ra nhiều sâu bệnh do “tán lúa” quá dầy làm cho điều kiện tiểu khí hậu (nhiệt độ, ẩm độ và ánh sáng) bên trong ruộng lúa sẽ thay đổi có lợi cho sinh vật gây hại.
Bón phân đạm thừa cũng sẽ cung cấp trực tiếp thức ăn cho sinh vật hại. Ở ĐBSCL, tán lúa dày còn bởi mật độ sạ cao, ban đầu do kỹ thuật kiểm soát cỏ dại còn kém và chất lượng hạt giống không đảm bảo cho nên nông dân cần sạ dầy, riết rồi thành thói quen khó sửa. Nhiều nghiên cứu của Viện lúa ĐBSCL và những nghiên cứu hợp tác quốc tế với JIRCAS Nhật Bản cho thấy có thể tiết kiệm hơn 50-60% lượng hạt giống mà năng suất vẫn không thay đổi. Ngoài việc bón thừa đạm làm tán lúa quá dày, việc sử dụng thuốc trừ sâu bệnh hại quá nhiều càng làm cho môi trường tự nhiên của cây lúa trở nên đơn điệu, thiếu vắng sự cân bằng vốn có và vì thế mà sinh vật gây hại càng có cơ hội phát triển mạnh hơn.
- Phương pháp sử dụng hóa học, về căn bản chỉ giải quyết nhất thời, căn cơ lâu dài nhất vẫn là các giải pháp giúp ngăn ngừa dịch hại trước khi xảy ra và thân thiện nhiều hơn với các điều kiện về môi trường giảm dần áp lực của sự tương tác ký sinh và ký chủ. Hơn thế nữa, một cơ cấu giống thích hợp cân đối giữa các tỉ lệ giống chống chịu và nhiễm bệnh chưa được chú ý. Với phương pháp gieo sạ thẳng dễ dàng cho nên thời vụ ở ĐBSCL càng trở nên phức tạp, lúc nào trên ruộng cũng có lúa, các giai đoạn sinh trưởng của lúa cứ nối tiếp nhau trên nhiều giống nhiễm bệnh còn chiếm diện tích lớn, đây cũng là cơ hội để sâu bệnh hại có thể tiếp tục phát triển đặc biệt là rầy nâu.
PGS.TS Phạm Văn Dư