Thứ Bảy, 24 tháng 5, 2008

TÀI LIỆU THAM KHẢO LÚA LAI

LUAGAO - Trong quá trình thực tập tôi đã thu thập và tổng hợp các tài liệu tham khảo về Cây lúa, đặc biệt là về Lúa lai:

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2004. Quy phạm khảo nghiệm giống lúa. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 40 trang.

Dương Văn Chín, “Lúa ưu thế lai vùng nhiệt đới ẩm cận xích đạo và vấn đề an ninh lương thực”, Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long, ngày 28 tháng 08 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 06 năm 2008.
<http://www.clrri.org/doc/lualai.pdf>

Trần Văn Đạt, 2005. Sản xuất lúa gạo thế giới hiện trạng và khuynh hướng phát triển trong thế kỷ XXI. Nhà xuất bản Nông Nghiệp, TP. Hồ Chí Minh, trang 280 – 295.

Trương Đích, 2000. Kỹ thuật trồng các giống lúa mới. Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội, 213 trang.

Lê Văn Đúng, 2006. So sánh năng suất của chín giống lúa lai có triển vọng trong vụ Hè thu năm 2006 tại trại giống cây trồng Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Nông học, Đại học Nông Lâm, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam.

Đào Lệ Hằng, 2007. Kỹ thuật cơ bản trồng lúa cao sản. Nhà xuất bản Hà Nội, 178 trang.

Nguyễn Văn Hoan, 2000. Lúa lai và kỹ thuật thâm canh. Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội, 147 trang.

Ngô Đằng Phong, Huỳnh Thị Thùy Trang và Nguyễn Duy Năng, 2003. Hướng dẫn sử dụng phần mềm MSTATC trong phương pháp thí nghiệm nông nghiệp. Chưa xuất bản, 87 trang.

Nguyễn Khắc Quỳnh và Ngô Thị Thuận, “Sản xuất lúa lai thương phẩm ở Việt Nam”, Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Đại học Nông Nghiệp I Hà Nội, 2005. Truy cập ngày 10 tháng 06 năm 2008.

Nguyễn Công Tạn (Chủ biên), 2002. Lúa lai ở Việt Nam. Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội, 326 trang.

Nguyễn Thị Trâm, 2002. Chọn giống lúa lai. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 131 trang

Lê Minh Triết, 2006. Bài giảng môn học cây lúa. Chưa xuất bản, 125 trang.

Tiếng nước ngoài:
YUAN LONGPING, “Hybrid Rice Technology for Food Security in the World”, China National Hybrid Rice Research & Development Center, ngày 12 – 13 tháng 02 năm 2004. Truy cập ngày 10 tháng 06 năm 2008.

DAT TRAN, “Hybrid rice for food security”, Food and Agriculture Oganization, 2004. Truy cập ngày 10 tháng 06 năm 2008.
<
http://www.unis.unvienna.org/documents/unis/calendar/year_of_rice/factsheet6.pdf>

Thứ Tư, 14 tháng 5, 2008

SINH VẬT HẠI LÚA ĐÔNG XUÂN VÀ QUI TRÌNH SẢN XUẤT LÚA VỤ ĐÔNG XUÂN 2007-2008 TẠI TP.HCM

LUAGAO - Thành phố Hồ Chí Minh có tổng diện tích sản xuất lúa gần 18.000 ha với 3 vùng rõ rệt: vùng chịu ảnh hưởng thuỷ triều (sản xuất 1 vụ lúa), vùng sử dụng nước mưa (sản xuất 2 vụ lúa) và vùng sử dụng nước kênh đông (sản xuất 3 vụ lúa), trong đó vụ mùa là vụ có diện tích cao nhất (khoảng 18.000 ha) và vụ đông xuân thường đạt năng suất cao nhất (>4 tấn/ha).
Diện tích lúa đông xuân hàng năm từ 7.000 ha – 9.000 ha với những đặc trưng như sau:
- Sản xuất tập trung tại huyện Củ Chi (vùng sử dụng nước kênh đông, vùng ven sông Sài Gòn) và 1 phần huyện Hóc Môn, quận 9.
- Thời vụ xuống giống chủ yếu trong tháng 12 để thu hoạch trong tháng 3 năm sau nhằm tránh các đợt rầy di trú lớn trong năm và tránh ngập nước vào đầu vụ, thiếu nước ở cuối vụ.
- Có khoảng trên 20 giống lúa được gieo trồng trong vụ và chỉ có từ 3-5 giống có diện tích gieo trồng > 10%.
I. DỰ BÁO TÌNH HÌNH SINH VẬT HẠI LÚA ĐÔNG XUÂN 2007-2008
Trong vụ đông xuân các giống lúa được gieo trồng phổ biến tại thành phố thường là giống có phẩm chất gạo ngon, dễ bán…tuy nhiên các giống này thường nhiễm rầy nâu và nhiễm bệnh đạo ôn. Do vậy trong vụ đông xuân 2007-2008 cần lưu ý đặc biệt rầy nâu – bệnh do rầy nâu làm môi giới lan truyền và bệnh đạo ôn (cháy lá).
1. Rầy nâu:
Rầy nâu trưởng thành vào đèn trùng với thời điểm có các đợt gió bão nên diễn biến rầy nâu vào đèn khá phức tạp đặc biệt là ở huyện Củ Chi.
- Trong vụ đông xuân, mỗi tháng sẽ có 1 lứa rầy và đỉnh cao mật số rầy xuất hiện ngay từ lứa thứ nhất; tuy nhiên do xuống giống không tập trung và diễn biến thời tiết phức tạp nên nếu đủ nước và có mưa trái mùa thì đỉnh cao rầy nâu gây hại có thể rơi vào tháng 2 năm 2008 khi mà phần lớn diện tích lúa đông xuân đã xuống giống đang giai đoạn đẻ nhánh đến trổ.
- Giống lúa đông xuân là giống ngắn ngày (100 ngày) và trên một cánh đồng sẽ có rất nhiều trà lúa, giống lúa xen kẻ lẫn nhau nên rất khó có khả năng rầy nâu bộc phát thành dịch trên diện rộng nhưng sẽ gây cháy chòm, cháy lõm cục bộ nếu không phòng trị kịp thời.
- Diện tích có thể nhiễm rầy nâu trong vụ đông xuân 2007-2008 ước khoảng 20% diện tích (1.000 ha) và tập trung vùng sử dụng nước kênh đông (huyện Củ Chi).
2. Bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá (VL-LXL):
- Bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá vẫn còn và phân bố rãi rác trên địa bàn thành phố, vì vậy nguy cơ rầy nâu chích hút và lây lan bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá từ vụ mùa 2007 sang vụ đông xuân 2007 - 2008 vẫn còn.
- Dự báo các diện tích lúa xuống giống xen lẫn trong lúa mùa và xuống giống trước các đợt rầy nâu di trú lớn (đợt tháng 11, đợt tháng 12/2007) đều có nguy cơ nhiễm bệnh ở các mức độ khác nhau.
- Diện tích có thể nhiễm bệnh VL, LXL khoảng 200 ha, tập trung ở huyện Củ Chi, huyện Hóc Môn.
3. Bệnh đạo ôn (cháy lá):
- Thời tiết lạnh dần sáng sớm có nhiều sương mù, ngày nắng yếu sẽ rất thích hợp cho bệnh đạo ôn phát sinh gây hại, nhất là các giống dễ nhiễm, các khu vực thường nhiễm bệnh năm trước và trà lúa gieo sạ quá dầy.
- Các giống nhiễm bệnh đạo ôn: VD20, ST3, OM 1490, IR 65610, Trâu Nằm.
4. Ốc bươu vàng:
- Ốc bươu vàng vẫn là dịch hại thường xuyên trong ruộng lúa và ốc chỉ gây thiệt hại nặng ở diện tích lúa dưới 10 ngày tuổi, nếu có mật độ 5-7 con/m2.
- Các khu vực chịu ảnh hưởng thuỷ triều và vùng sử dụng nước kênh đông là những khu vực sẽ bị ốc tấn công và gây hại, tập trung ở huyện Củ Chi.
5. Sinh vật hại khác:
Ngoài ra cũng cần lưu ý các đối tượng sinh vật hại có thể phát sinh gây hại cục bộ như sâu cuốn lá nhỏ, rầy cánh trắng, bọ trĩ, sâu phao, chuột, bệnh khô vằn, tuyến trùng rễ, bệnh vàng lá chín sớm …
II. QUY TRÌNH SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN
1. Vệ sinh đồng ruộng:
- Để tiêu diệt triệt để nguồn bệnh trước khi gieo sạ lúa vụ sau phải thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh đồng ruộng, như: cày, trục vùi lúa chét, dọn sạch cỏ bờ ruộng, mương dẫn nước.
- Biện pháp diệt cỏ dại, lúa chét:
* Cày bừa chôn cỏ, lúa chét hoặc dùng phảng chặt cỏ dại, lúa chét trước; xong cày lật chôn cỏ dại, lúa chét.
* Sử dụng thuốc diệt cỏ: Star, Sofit, Sirius…
* Sàng sẩy loại bỏ hạt cỏ lẫn trong giống dùng gieo sạ.
* Sử dụng phân hữu cơ đã ủ hoai, để tránh hạt cỏ còn sống trong phân.
- Đối với ruộng lúa đã nhiễm bệnh vụ mùa phải thực hiện xong công tác vệ sinh đồng ruộng trước khi xuống giống vụ đông xuân từ 20-30 ngày.
2. Thời vụ:
- Thời vụ gieo trồng vụ đông xuân: 1/10/2006 đến 31/03/2007, tuy nhiên tháng 11, tháng 12 là thời điểm xuống giống lúa thích hợp nhất để tránh rầy di trú vào cuối tháng 11 và tránh ngập nặng vào đầu vụ thiếu nước ở cuối vụ.
- Thời điểm xuống giống của từng cánh đồng cần căn cứ vào số liệu bẫy đèn và phải đảm bảo có thời gian cách ly tối thiểu giữa vụ mùa và vụ đông xuân là 15-20 ngày và từ 1-3 ngày sau khi rầy vào đèn rộ để khi rầy di trú nhiếu nhất thì lúa chưa gieo cấy và khi đến đợt rầy di trú của tháng sau thì lúa và mạ đã trên 25 ngày tuổi.
3. Giống lúa:
- Sử dụng giống xác nhận, kháng rầy nâu, sạch bệnh, sạch hạt cỏ, phù hợp với điều kiện canh tác của địa phương.
- Các giống lúa được Cục Trồng trọt khuyến cáo sử dụng trên địa bàn thành phố trong vụ đông xuân 2007-2008: VND 95-20, VND 99-3, OMCS 2000, OM 2717, OM 2718, IR64, …
4. Lượng giống:
Tùy vào chân đất, chất lượng hạt giống và phương pháp gieo sạ mà định lượng giống sử dụng:
- Đối với sạ hàng: từ 70-100 kg/ha/vụ.
- Đối với sạ lan : từ 90-120 kg/ha/vụ.
5. Quản lý nước:
- Trong tuần đầu tiên sau sạ, chỉ cần giữ mực nước ruộng từ bão hoà đến cao khoảng 1 cm.
- Mực nước trong ruộng sẽ được giữ cao khoảng 1-3 cm theo giai đoạn phát triển của cây lúa và giữ liên tục cho đến khi bón phân lần 2, giai đoạn này nước là nhu cầu thiết yếu để cây lúa phát triển, cũng nhằm hạn chế sự mọc mầm của các loài cỏ.
- Giai đoạn cây lúa từ 25-40 NSS, cây lúa đẻ nhánh rộ đến đẻ nhánh tối đa và phần lớn số chồi vô hiệu thường phát triển trong giai đoạn này. Giữ mực nước trong ruộng từ bằng mặt đất đến thấp hơn mặt đất 15 cm (đặt ống nhựa có đục lỗ bên hông, bên trong có chia vạch 5cm để theo dõi mực nước bên trong ống). Cách điều tiết này sẽ làm phơi lộ mặt ruộng vì vậy còn gọi là kỹ thuật tưới “ướt khô xen kẻ”.
- Giai đoạn từ 40-45 NSS, đây là giai đoạn bón phân lần 3, cần đưa nước vào khoảng 1-3 cm trước khi bón phân nhằm để tránh phân bị ánh sáng làm phân huỷ và phân bị bốc hơi, nhất là phân đạm.
- Giai đoạn 60-70 NSS, đây là giai đoạn lúa trổ do vậy cần giữ mực nước trong ruộng cao 3-5 cm liên tục trong vòng khoảng 10 ngày để đủ nước cho cây lúa trổ, vì có nước trong ruộng sẽ tạo cho nhiệt độ trong ruộng không quá nóng, cây lúa thụ phấn dễ dàng, hạt lúa không bị lép hay lửng.
- Giai đoạn 70 NSS đến thu hoạch, đây là giai đoạn lúa ngậm sữa - chắc xanh và chín, chỉ cần giữ mực nước từ bằng mặt đất đến thấp hơn mặt đất 15 cm; và phải “xiết nước” 10 ngày trước khi thu hoạch để mặt ruộng được khô, dễ thu hoạch.
6. Dặm tỉa:
Nên cấy dặm sớm từ 14-18 ngày sau sạ vào những chỗ bị chết hay bị mất cây để đảm bảo mật độ cây trong ruộng lúa được đồng đều.
7. Sử dụng phân bón:
7.1. Quy trình bón phân (lượng phân bón cho 1 ha lúa): Nếu sử dụng phân đơn, có thể áp dụng cách bón như sau:
- Trước sạ: Bón lót phân hữu cơ + 200kg super lân.
- Thúc lần 1 (8-10 ngày sau sạ ): 50kg urê.
- Thúc lần 2 (18-20 ngày sau sạ): 60kg urê.
- Thúc lần 3 (bón đón đòng 35 ngày sau sạ): 50kg KCl + 50 kg urê. Nếu sử dụng phân hỗn hợp, có thể áp dụng cách bón như sau:
- Bón trước sạ: Bón lót phân hữu cơ + 200 kg super lân
- Bón thúc lần 1 (8-10 ngày sau sạ): 120 kg NPK (20-10-10) hoặc 150 kg NPK (16-16-8). - Bón thúc lần 2 (18-20 ngày sau sạ): 140 kg NPK (20-10-10) hoặc 170 kg NPK (16-16-8). - Bón thúc lần 3 ( bón đón đòng 35-40 ngày sau sạ): 50 kg urê.
Lưu ý: Tùy theo chân đất có thể tăng giảm lượng phân cho phù hợp.
7.2. Sử dụng bảng so màu lá lúa để bón phân đạm:
a. Thời điểm tiến hành so màu:
- Bón thúc lần 1: Không cần dùng bảng so màu.
- Bón thúc lần 2: lúc 18-20 ngày sau sạ và sau đó cách 2-3 ngày so lại.
- Bón thúc lần 3: khoảng 35 ngày sau sạ và sau đó cách 2-3 ngày so lại.
b. Cách thực hiện so màu lá lúa:
- Nên so màu vào cùng thời gian trong ngày, có thể từ 8-10 giờ sáng hoặc từ 2-4 giờ chiều.
- Chỉ một người thực hiện việc so màu lá lúa trong suốt vụ lúa.
- Khi so màu lá lúa nên xoay lưng về phía mặt trời để che mát cho lá lúa, dễ thấy màu sắc hơn.
- Chọn khoảng 20 lá lúa (lá cao nhất trong bụi lúa) của 5 điểm khác nhau trên ruộng, đặt phần lá lúa ở khoảng 1/3 đến 2/5 chóp lá lúa lên khung màu trong bảng so màu, ghi nhận số khung màu của từng lá, sau đó tính trị số trung bình của 20 lá được so màu.
- Nếu trị số trung bình ở dưới khung màu chuẩn (khung màu chuẩn là khung số 3 đối với lúa sạ) là thiếu đạm, tiến hành bón đạm theo lượng đã tính.
- Tùy theo điều kiện canh tác từng vụ thực hiện so màu để bón thúc lần 2 và lần 3 có thể sớm hoặc muộn hơn.
8. Bảo vệ thực vật cây lúa đông xuân:
8.1. Rầy nâu:

a. Các biện pháp phòng:
- Sử dụng giống kháng rầy;
- Gieo, cấy lúa vào thời gian có thể né rầy: thường mỗi tháng có một đợt rầy vào đèn rộ kéo dài từ 5-7 ngày; để né rầy thì gieo sạ ngay sau đỉnh cao rầy vào đèn, như vậy lúa non sẽ tránh được rầy trưởng thành truyền bệnh;
- Để bảo vệ cây lúa non, sau khi sạ cấy nên cho nước vào ruộng và tiếp tục duy trì mực nước thích hợp để hạn chế rầy nâu chích hút thân cây lúa.
b. Điều tra phát hiện rầy nâu:
- Từ ngày thứ 5-7 sau khi rầy vào đèn rộ là thời điểm kiểm tra trứng rầy để dự báo tỷ lệ nở, thời gian rầy nở rộ để chuẩn bị diệt trừ.
- Từ ngày thứ 7-10 sau khi rầy vào đèn rộ là bắt đầu có rầy cám, nên kiểm tra đồng ruộng hàng ngày để xác định mật số rầy, thời điểm phòng trừ, biện pháp phòng trừ phù hợp có hiệu quả.
- Từ ngày thứ 13-15 sau khi rầy vào đèn rộ là rầy non xuất hiện rộ và đạt tuổi 2, tuổi 3 (rầy đã chuyển màu nâu) nên tiến hành trừ rầy nếu có mật độ cao.
c. Trừ rầy ruộng nhiễm bệnh VL, LXL:
- Giai đoạn lúa từ sau gieo sạ đến 20 ngày: nếu phát hiện rầy nâu xuất hiện thì phun thuốc trừ rầy.
- Giai đoạn từ sau 20 ngày đến trổ chín: nếu phát hiện rầy ở tuổi 1-3, hoặc rầy trưởng thành chiếm đa số trong ruộng với mật số từ 3 con/dảnh trở lên thì phun thuốc trừ rầy. d. Trừ rầy ruộng không nhiễm bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá:
- Giai đoạn lúa từ sau gieo sạ đến 20 ngày: nếu phát hiện rầy nâu xuất hiện thì phun thuốc trừ rầy.
- Giai đoạn từ sau 20 ngày đến trổ chín phun thuốc trừ rầy cần dựa vào kết quả phân tích hệ sinh thái ruộng lúa:
* Tỷ lệ rầy nâu/thiên địch: 5-7 rầy/0 thiên địch.
* Tuổi rầy phổ biến: tuổi 2, tuổi 3.
đ. Loại thuốc, liều lượng sử dụng:
- Thuốc trừ rầy Butyl 400 SC: Liều dùng 200ml/ ha (20cc/ 1.000 m2). Nồng độ pha 4-5ml/ bình 8 lít.
- Thuốc Bascide 50ND: Liều dùng 1,5 lít/ ha (150ml/1.000m2). Nồng độ pha 40ml/ bình 8 lít.
- Lượng nước thuốc phun: 400 lít nước/ha khi lúa giai đoạn mạ - đẻ nhánh và 600 lít nước/ha khi lúa giai đoạn trổ.
e. Kỹ thuật:
- Trước khi phun thuốc nếu có điều kiện nên cho nước ngập để rầy di chuyển lên cao, xịt dễ trúng rầy hơn.
- Phun thật kỹ ở phần gốc lúa và nên rẽ hàng với khoảng cách mỗi vạt luá từ 1-2 mét.
8.2. Bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá (VL-LXL):
- Vận động nông dân tích cực xuống giống “ né rầy”.
- Tuyên truyền, vận động nông dân khi làm cỏ bón phân cho lúa nên kết hợp nhổ bỏ cây lúa nhiễm bệnh VL,LXL.
- Phun thuốc trừ rầy nâu tại các ruộng lúa nhiễm nặng bệnh VL, LXL (diện tích có tỷ lệ cây bệnh giai đoạn đẻ nhánh >10% và giai đoạn đòng >20%).
- Bắt buộc tiêu huỷ diện tích nhiễm bệnh VL-LXL với tỉ lệ 30-70% mà xuất hiện rầy nâu.
8.3. Chuột:
Đặc biệt lưu ý các khu đồng ruộng gần vùng đất bỏ hoang là nơi chuột trú ẩn và gia tăng mật số trong quần thể. Phòng trừ chuột ngay từ đầu vụ. Có thể áp dụng các biện pháp như đào hang, dùng bẫy lồng, bẫy sập để bắt chuột hoặc dùng bẫy bả bằng các loại thuốc diệt chuột thông dụng. Không dùng điện để bẫy chuột.
8.4. Sâu cuốn lá nhỏ:
Sâu cuốn lá có thể phát sinh mạnh và gây hại cho lúa đông xuân giai đoạn đẻ nhánh, làm đòng. Thành phần thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ hiện nay rất nhiều trên đồng ruộng, do vậy không nên phun thuốc trong giai đoạn 40 ngày đầu sau sạ. Nhiều loại thuốc hóa học có thể trừ được sâu cuốn lá: Netoxin, Padan, Sherpa, Cyperin…
8.5. Bệnh đạo ôn (cháy lá):
- Dùng giống kháng hoặc giống ít nhiễm bệnh.
- Gieo sạ mật độ vừa phải.
- Bón cân đối phân N, P, K. Không bón quá nhiều đạm. Khi lúa bị bệnh phải ngưng bón đạm và không để ruộng ở tình trạng khô nước.
- Đối với các giống nhiễm cần phun ngừa bệnh đạo ôn cổ bông trước khi lúa trổ để tránh thiệt hại.
- Sử dụng các loại thuốc trừ bệnh đạo ôn thông dụng như Fuji-One, Trizole, Tilt…
8.6. Bệnh đốm vằn:
- Gieo sạ mật độ vừa phải.
- Bón cân đối phân N, P, K, không nên bón quá thừa đạm, quá muộn.
- Trên ruộng thường bị đốm vằn nên tăng cường bón Kali. Nếu phát hiện bệnh phải ngưng bón đạm và phun thuốc trừ bệnh ngay.
- Dùng các loại thuốc: Anvil, Rovral…
8.7. Ốc Bươu vàng:

- Để ngăn ốc vào ruộng lúa, ruộng rau muống, rau nhút có thể dùng bạt nylon vây quanh ruộng mạ hoặc đặt lưới chắn ốc ở các miệng cống.
- Ở những khu vực đang có nhiều ốc nên cấy mạ già và nhiều tép, nếu ruộng sạ thì tăng thêm lượng giống để bù đắp lượng giống do ốc ăn.
- Trên ruộng lúa chủ động được nước cần vét rãnh nhỏ dọc theo dọc bờ và định kỳ tháo cạn nước ruộng, ốc sẽ theo nước di chuyển tập trung vào các rãnh nên có thể bắt ốc dễ dàng.
- Trên các ruộng lúa không chủ động nước có thể dẫn dụ ốc để bắt bằng cách thả những thức ăn ốc thích như lá thân cây đu đủ, lá khoai mì, thầu dầu. …để ốc tập trung lại, thu bắt.
- Cắm những cành cây, que nhỏ trong ruộng cao hơn mặt nước, ốc sẽ tập trung leo lên đẻ trứng trên những que này, thu và tiêu hủy trứng ốc.
- Chỉ sử dụng thuốc trừ ốc ở những vùng không nuôi trồng thuỷ sản và đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật ghi trên nhãn, đặc biệt ruộng phải giữ được mực nước nông từ 3 cm đến 5 cm trong vòng 3 đến 5 ngày sau khi rãi thuốc.

KS. Nguyễn Thị Lệ Thoa

Chủ Nhật, 11 tháng 5, 2008

Chương trình 1 triệu ha lúa lai: Đầu tư cả ngàn tỷ đồng, được gì?




Chương trình lúa lai là một thành tựu của Trung Quốc, nhưng chất lượng kém, chủ yếu phục vụ… chăn nuôi và đang bị loại bỏ. Trong khi đó, Việt Nam đặt mục tiêu đến 2010 trồng 1 triệu ha lúa lai.
Trồng thử nghiệm lúa lai F1 ở huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá
Đầu tư 20 tỷ đồng vẫn phải nhập giống Trung Quốc
Theo Bộ NN&PTNT, đến nay kinh phí cấp cho chương trình nghiên cứu hạt giống lúa lai là gần 20 tỷ đồng, gồm chi xây dựng cơ bản, sự nghiệp…
Kết quả, theo đánh giá chủ quan của Trung tâm Nghiên cứu và phát triển lúa lai (NC&PTLL): Đã nghiên cứu làm chủ được công nghệ lúa lai 3 dòng và bước đầu làm chủ về công nghệ lúa lai 2 dòng, là cơ sở vững chắc cho sản xuất lúa lai.
Tuy nhiên, hiện nguồn giống lúa lai vẫn phải nhập từ Trung Quốc. TS Nguyễn Trí Hoàn - Giám đốc Trung tâm - đưa ra 2 bài toán để chứng minh cho hiệu quả sản xuất lúa lai và việc đổ hàng chục tỷ đồng vào việc này là hiệu quả:
Giá thành giống lúa lai sản xuất trong nước là 10.000 đồng/kg, thấp hơn giá giống nhập từ Trung Quốc 8.000 đồng/kg, Việt Nam đã tiết kiệm được 10 tỷ đồng. Nông dân do sử dụng giống lúa lai của chương trình cấy trên diện tích 50.000 ha doanh thu tăng thêm là 150 tỷ đồng.
Tuy nhiên, trên thực tế nông dân sử dụng lúa lai Trung Quốc, năng suất lúa vẫn cao hơn năng suất sử dụng giống lúa lai trong nước. Bởi thế, nông dân gần như không thích mua giống lúa lai trong nước, vì nghi ngờ chất lượng.
Nhiều tỉnh phía Bắc vẫn phải móc hầu bao từ 3 - 5 tỷ đồng để trợ giá cho nông dân mua giống lúa lai của Trung Quốc, dù giá cao gấp gần 2 lần.
Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Kính - Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Giống cây trồng Việt Nam, đến nay, Việt Nam vẫn chưa tạo được dòng bất dục đực (dùng để tạo cặp lai ra dòng F1) nên vẫn phải nhập từ Trung Quốc thông qua doanh nghiệp một số dòng để tạo cặp lai.
Trong khi đó, Trung Quốc liên tục tạo được những cặp lai với ưu thế mới. Vậy nên, dù nghiên cứu có cho ra giống lúa lai với giá thành 10.000 đồng/kg cũng là quá đắt.
Theo Hội Giống cây trồng Việt Nam, năm 2002 Bộ NN&PTNT chuẩn bị trình Chính phủ phê duyệt chương trình nghiên cứu giống lúa lai với tổng vốn đầu tư 1.200 tỷ đồng, nhưng Hội cho rằng, như thế là lãng phí và Bộ đã dừng lại.
Năm 2004, Bộ sửa lại chương trình với tổng vốn 288 tỷ đồng, Hội tiếp tục phản đối…
Nhiều người cho rằng, chương trình nghiên cứu giống lúa lai là chương trình lặp lại Chương trình giống cây trồng Chính phủ đã phê duyệt. Nếu tiếp tục trình Chính phủ xin hàng trăm tỷ đồng cho tạo giống lúa lai thì lãng phí sẽ lớn khủng khiếp.
Có nên phát triển lúa lai?
Chương trình lúa lai là một thành tựu lớn của Trung Quốc, nhưng nó chỉ có giá trị về tăng sản lượng, còn chất lượng gạo lại quá thấp, nên chủ yếu phục vụ… chăn nuôi là chính, hoàn toàn không có giá trị xuất khẩu.
Hội thảo đầu bờ về khảo nghiệm lúa lai tại Hương Canh (Vĩnh Phúc) Ảnh: CTVCòn ở Việt Nam đặt mục tiêu đến 2010 trồng 1 triệu ha lúa lai. Thậm chí có nơi như Đức Thọ (Hà Tĩnh) còn bắt dân trồng lúa lai.
Trong khi đó thì ở quê hương lúa lai là Trung Quốc, diện tích lúa lai đã giảm từ 17,7 triệu ha (năm 1997) xuống 15 triệu ha (năm 2003), bằng 50% tổng diện tích lúa cả nước. Băng-la-đét, trồng 3% diện tích lúa lai. Ấn Độ trồng 1% diện tích.
Một nghịch lý khác khi phát triển lúa lai là: tất cả các nhà khoa học tuyên truyền cho chương trình lúa lai đều không ăn gạo từ lúa lai; tỉnh Điện Biên bị “ấn” trồng lúa lai như cũng đã xoá bỏ để trồng lúa thuần.
Theo Bộ NN&PTNT, những năm qua, Nhà nước đã phải đầu tư hàng nghìn tỷ đồng để phát triển lúa lai thông qua các chương trình: Nghiên cứu khoa học, chương trình khuyến nông, chuyển dịch cơ cấu sản xuất, các dự án hợp tác quốc tế, nghiên cứu lai tạo giống, hỗ trợ vật tư sản xuất lúa lai F1, tập huấn sản xuất, trợ giá giống lúa lai cho nông dân...
Tiền rải ra cho phát triển lúa lai nhiều như nước. Nhưng GS Kính đặt câu hỏi: Phát triển rầm rộ lúa lai nông dân được gì? Theo GS Kính, chúng ta đặt mục tiêu, kế hoạch trồng lúa lai cứng nhắc, nông dân không được lợi, vì lúa chất lượng thấp khó bán.
Còn Cty giống thì bán 1 tấn giống lúa lai, họ lãi 1,5 triệu đồng. Là nước luôn đứng trong tốp đầu về xuất khẩu gạo mà vẫn chủ trương đẩy mạnh sản lượng là không hợp lý.
Nhìn từ khía cạnh môi trường, ông Nguyễn Văn Hoan - Chuyên gia lúa lai thuộc Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội cho biết, diện tích lúa lai đã đạt ngưỡng cần hạn chế.
Nếu cứ đẩy mạnh trồng lúa lai thì phải dùng nhiều phân bón, thuốc trừ sâu… và đất bị bạc màu. Cần xem xét lại việc mở rộng diện tích, đánh giá lại hiệu quả lúa lai đang là đòi hỏi chính đáng của nông dân.
Với thực tế này, nếu tiếp tục đầu tư thêm hàng nghìn tỷ đồng để phát triển thêm 500.000 ha lúa lai để đạt mục tiêu 1 triệu ha vào năm 2010 rất có thể sẽ gây ra hậu quả khó lường.


Quyền Thành