Thứ Hai, 29 tháng 11, 2010

Chế phẩm sinh học dùng cho Lúa

LUAGAO - Giới thiệu chế phẩm sinh học Active Cleaner sử dụng trên cây Lúa

+ Thành phần
Active Cleaner chứa 5 nhóm vi sinh có ích là Photosynthetic bacteria group, Lactic acid bacteria group, Yeasts group, Filamentous fungi group và Bacillus natto group.
+ Công dụng

1. Cải tạo đất, gia tăng tính thông hơi.

2. Ức chế sự sinh sản và phát triển của sâu bọ, vi sinh vật có hại. Gia tăng nhóm vi sinh vật có ích trong đất và các thiên địch.

3. Thúc đẩy lúa sinh trưởng và phát triển tốt, nâng cao hệ miễn dịch của cây, giảm tỷ lệ sâu bệnh.

4. Tăng năng suất và phẩm chất.

5. Lúa trổ bông đều, bông dài, hạt to chắc, sáng mẩy.

6. Kéo dài thời gian bảo quản.

7. Hạt gạo khi ăn có vị đặc biệt, ngọt, thơm.

8.Sử dụng sản phẩm Active Cleaner thường xuyên sẽ giảm sử dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu.

+ Cách sử dụng

a/ Dạng bột :

Sau sạ 7-10 ngày : Dùng Active Cleaner trộn với phân bón đều cả ruộng, tỷ lệ 4kg Active Cleaner trộn với 1 tấn phân. Sau đó giữ nước 1 tuần không cho nước chảy ra.

b/ Dạng lỏng :
  • Sau sạ 30 ngày : dùng Active Cleaner dạng lỏng pha loãng 300 lần, phun ướt đều trên bề mặt lá.
  • Giai đoạn lúa được 60-65 ngày : tiếp tục phun 3 lần, định kỳ 7 ngày/lần. (Kết hợp phun Active Cleaner khi bón phân gốc hoặc khi phun phân bón lá nhưng liều lượng phân chỉ sử dụng 70-80% so với bình thường).
Ghi chú :
  • Sử dụng lúc sáng sớm hoặc chiều mát (8-9 giờ sáng, chiều từ 16h-17h). Tránh sử dụng lúc trời nắng nóng, trời sắp mưa hoặc vừa mưa xong.
  • Active Cleaner có thể phối hợp sử dụng chung với thuốc trừ sâu (pha chung trong vòng 24 giờ).
Quy cách :
  • Dạng bột: có 2 loại: gói 1kg, bao 25 kg.
  • Dạng lỏng: có 2 loại: chai nhựa 1 lít, thùng nhựa 20 lít.

Liên hệ mua: Nguyễn Chí Công
ĐT: 0902 339 006
Email: chicong1002@gmail.com
Công ty TNHH Tân Phương Lê

Thứ Ba, 23 tháng 11, 2010

MỘT SỐ LƯU Ý VỀ THỜI VỤ VÀ CƠ CẤU GIỐNG LÚA SẢN XUẤT

LUAGAO - Các tỉnh Nam Trung bộ từ thành phố Đà Nẵng đến Khánh Hòa (6 tỉnh, thành phố) sản xuất nông nghiệp và dịch vụ vẫn chiếm ưu thế.

Là vùng luôn gánh chịu những ảnh hưởng nặng nề của thiên tai, nên sản xuất lúa gạo có tầm quan trọng đặc biệt để đảm bảo an ninh lương thực ổn định đời sống cho người dân trong vùng. Trong cơ cấu mùa vụ, sản xuất lúa vụ Đông Xuân là vụ có diện tích lớn và thường đạt năng suất cao nhất trong năm nên nó có vai trò đặc biệt quan trọng quyết định sản lượng lương thực của vùng.

Theo số liệu điều tra từ các Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn năm 2009, diện tích lúa 386.929 ha, chiếm 5,2 % tổng diện tích lúa cả nước; Năng suất trung bình năm (TB) 49,9 tạ/ha, thấp hơn năng suất của cả nước 2,4 tạ/ha. Trong đó, diện tích lúa vụ Đông Xuân 174.834 ha, chiếm 45 % tổng diện tích cả năm của vùng; Năng suất TB 57 tạ/ha.

Sản xuất lúa vụ Đông Xuân tại các tỉnh Nam Trung bộ có nhiều lợi thế như thời gian sản xuất kéo dài từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 nên cây lúa có thời gian dài hơn để tích lũy chất khô và các bộ phận kinh tế của cây. Trong khi nền nhiệt độ tăng dần từ đầu vụ đến cuối vụ Đông Xuân, biên độ nhiệt ngày và đêm chênh lệch nhau khá cao từ 6-12 0C; cường độ ánh sáng dồi dào, nhất là vào cuối vụ; cường độ bốc hơi nước thường thấp hơn vụ Hè Thu nên đã giúp cho cây lúa tích lũy chất khô về hạt rất tốt, khả năng đạt năng suất cao nhất trong năm là có cơ sở. Tuy vậy, thực trạng sản xuất lúa tại các tỉnh trong vùng vụ Đông Xuân thường thấp và bấp bênh không ổn định, nhiều nơi còn mất mùa cục bộ.

Trong 11 năm từ 2000-2010, sản xuất lúa vụ Đông Xuân tại các tỉnh Nam Trung bộ có số vụ năng suất thấp hơn năng suất bình quân chung như sau:

Đà Nẵng có 5/11 vụ; Quảng Nam có 3/11 vụ, Quảng Ngãi có 4/11 vụ, Bình Định có 5/11 vụ; Phú Yên có 4 /11 vụ và Khánh Hòa có 7/11 vụ.

Nguyên nhân sâu xa là do một số địa phương trong vùng còn sử dụng cơ cấu 3 vụ lúa/năm nên đã co kéo về thời gian, hoặc cơ cấu 2 vụ lúa/năm nhưng do bố trí không đúng lịch thời vụ gieo sạ thường nôn nóng đẩy thời vụ gieo sạ vụ Đông Xuân lên sớm để kịp gieo sạ lúa vụ 3, sử dụng không đúng cơ cấu giống lúa theo trà nên khi cây lúa vào giai đoạn làm đòng, trổ bông luôn gặp điều kiện thời tiết bất lợi đã ảnh hưởng lớn đến năng suất cuối cùng. Mặt khác còn có nguyên nhân trực tiếp làm ảnh hưởng đến năng suất lúa vụ Đông Xuân tại các tỉnh trong vùng đó là:

Mưa muộn trong tháng 12 của năm trước, do mưa tập trung có khi hình thành lũ sớm đã gây ảnh hưởng đến trà gieo sớm sẽ làm trôi dạt giống thời điểm gieo sạ và ức chế sinh trưởng phát triển cây lúa thời kỳ cây con;

Thời tiết giá lạnh từ tháng 1 đến 15/3, do nhiệt độ xuống thấp dưới 18-20 0C, ẩm độ không khí tuyệt đối thấp <>

Hạn hán diễn ra mạnh từ tháng 2 đến tháng 5, nặng nhất là từ tháng 2-5. Hạn kết hợp nhiệt độ tăng nhanh trên 30 0C đã làm cạn kiệt nguồn nước tưới cho lúa. Hạn hán cũng tạo nên môi trường nắng ẩm đây là một trong những điều kiện môi trường rất thích hợp cho rầy nâu, rầy lưng trắng có cơ hội phát triển nhanh và có nguy cơ lan rộng thành dịch gây hại lớn cho lúa vụ Đông Xuân trong vùng.

Từ thực tiễn sản xuất lúa trong nhiều năm qua, các tỉnh trong vùng đã đồng loạt chuyển đổi hầu hết diện tích từ 3 vụ lúa/năm bấp bênh sang trồng 2 vụ/năm ăn chắc; Nhờ việc bố trí lại thời vụ gieo cấy và sử dụng cơ cấu giống lúa hợp lý, nên sản lượng lúa 2 vụ lúa/năm vẫn đạt cao từ 11-13 tấn/năm, tương đương sản lượng lúa gieo cấy 3 vụ lúa/năm, nhưng lại giảm được gần 1/3 chi phí đầu tư và hiệu quả kinh tế tăng cao. Đây cũng là lý do có cơ sở khoa học và thực tiễn mà nông dân các tỉnh trong vùng đã thực hiện thành công trong chuyển dịch mùa vụ, cơ cấu giống lúa trong hơn 20 năm qua.

Khuyến cáo khung thời vụ gieo cấy lúa trong vụ Đông Xuân như sau:

- Đà Nẵng: lúa trổ bông an toàn từ ngày 25/3-10/4; thu hoạch lúa từ ngày 25/4-10/05. Thời vụ gieo sạ: Nhóm giống lúa dài ngày: gieo sạ từ ngày 25/12-05/01; Nhóm giống lúa ngắn, trung ngày: gieo sạ từ ngày 01-15/01.

- Quảng Nam: lúa trổ bông an toàn từ ngày 20/03 đến 05/4; thu hoạch lúa từ ngày 25/04 đến 05/5. Thời vụ gieo sạ: Nhóm giống lúa ngắn, trung ngày: gieo sạ từ ngày 01-20/01; Nhóm giống lúa dài ngày: gieo sạ từ ngày 25/12-05/01.

- Quảng Ngãi: lúa trổ bông từ ngày 20/03 đến 05/4; thu hoạch lúa từ ngày 25/04 đến 05/5. Thời vụ gieo sạ: Nhóm giống lúa dài ngày: gieo sạ từ ngày 25-30/12; Nhóm giống lúa ngắn, trung ngày: gieo sạ từ ngày 01-15/01.

- Bình Định

+ Cơ cấu 2 vụ lúa/năm: lúa trổ bông an toàn từ 15/3-30/3 và thu hoạch từ 15-30/4. Thời gian gieo sạ: Nhóm giống lúa ngắn, trung ngày: gieo sạ từ ngày 05-15/01; Nhóm giống lúa dài ngày: gieo sạ từ ngày 25/12-05/01.

+ Cơ cấu 3 vụ lúa/năm: lúa trổ bông an toàn từ 25/2-5/3. Tùy từng nhóm giống, thời gian gieo sạ từ 05/12-15/12 và thu hoạch từ 25/3-5/4;

- Phú Yên: lúa trổ bông an toàn từ Lúa trổ bông an toàn từ 15/3-30/3 và thu hoạch từ 15-30/4. Thời gian gieo sạ: Nhóm giống lúa ngắn, trung ngày: gieo sạ từ ngày 05-10/01; Nhóm giống lúa dài ngày: gieo sạ từ ngày 20-30/12.

- Khánh Hòa: lúa trổ bông an toàn từ 15/3-30/3 và thu hoạch từ 10-25/4. Thời gian gieo sạ: Nhóm giống lúa ngắn, trung ngày: gieo sạ từ ngày 25/12-05/01; Nhóm giống lúa dài ngày: gieo sạ từ ngày 10-30/12.

Về cơ cấu giống lúa gieo cấy vụ Đông Xuân như sau:

- Đà Nẵng: gieo sạ các giống lúa chủ lực NX30, Xi23, ĐB6, Q5;

- Quảng Nam: gieo sạ các giống lúa chủ lực NX30, Xi23, X21, TH1, VĐ20, CH5; BTE1, Nhị ưu 838, Nghi hương 2308, TN15, TH3-3. Sản xuất thử các giống lúa triển vọng: NP12, NP11, PC10, P13, ĐT34, VS1, BM207; QH5, H94017, Dương Quang 18, BIO404, Vân Hương 7, Nghi hương 305;

- Quảng Ngãi: gieo sạ các giống lúa chủ lực NX30, Xi23, BM9855, Q5, Khang dân đột biến, ĐV108, ĐH99-81, HT1; Nhị ưu 838, TH3-3, BTE1. Sản xuất thử các giống ML203, PC10, ĐT34, VS1, BM207; H94017, QH5, Dương Quang 18, BIO404, Nghi hương 305;

- Bình Định

+ Cơ cấu 2 vụ lúa/năm: các giống lúa chủ lực Khang dân đột biến, ĐV 108, Q5, ĐB6, TBR1, SH2, Xi23, BIO404, Dưu 527, Nghi hương 2308, N.ưu 69, Nhị ưu 838, BTE1. Các giống lúa sản xuất thử ĐT34, VS1, QH5 Nghi hương 035.

+ Cơ cấu 3 vụ lúa/năm: các giống lúa chủ lực Khang dân đột biến, ĐV 108, SH 2, ML48, ML202, ML 214, ĐB6, TBR1, BIO404, Dưu 527, Nghi hương 2308, N. ưu 69, Nhị ưu 838, PAC807.

- Phú Yên: các giống lúa chủ lực ML68, ML4, LD10, TH330, MTL250, ML48, OMCS2000, ĐV108, TH28, OMCS97, ML108, LTD93-1, OM3536, TX93, OM1490, KD18, Q5, ĐB6, HT1, OM2695-2, TH6, ML202, ML216, ML211, ML216, ML213, TBR1; IR17494, IR67032. Các giống lúa sản xuất thử ĐT34, VS1, QH5, Nghi hương 2308, Nghi hương 035, Bio404, Nhị ưu 838.

- Khánh Hòa: các giống lúa chủ lực ML48, TH6, HT1, ĐV108, ML202, Khang dân đột biến, TBR1; IR 17494. Các giống lúa sản xuất thử ĐT34, VS1, ML214; Xi23, NX30, QH5, Nghi hương 2308, Bio404, Nhị ưu 838.

Một số lưu ý trong thâm canh lúa tại các tỉnh trong vùng

Trong điều kiện hiện nay do chịu tác động rất lớn về những đổi khí hậu toàn cầu nên các tỉnh Nam Trung bộ cần tiếp tục cải tiến thời vụ và sử dụng cơ cấu giống lúa phù hợp để chủ động sản xuất vụ Đông Xuân đạt kết quả cao;

Tiếp tục tuyển chọn các giống lúa mới năng suất cao; chất lượng tốt; ưu tiên các giống kháng rầy, kháng bệnh đạo ôn và bệnh bạc lá; các giống lúa chịu mặn, úng và chịu phèn để ứng phó với biến đổi khí hậu tại các địa phương ven biển của các tỉnh Nam Trung bộ;

Thực hiện chương trình quản lý dịch hại tổng hợp và chương trình 3 giảm 3 tăng trong thâm canh tăng năng suất lúa;

Đẩy mạnh sản xuất lúa lai, nhất là các giống lúa lai có chất lượng gạo tốt, cơm ngon, đưa diện tích lúa lai vào gieo cấy trong vùng từ 20-25 % tổng diện tích gieo cấy lúa nhằm nâng cao sản lượng lương thực để đáp ứng nhu cầu của nhân dân trong vùng;

Cần tăng cường công tác thanh kiểm tra định kỳ, công tác quản lý nhà nước về sản xuất, chứng nhận chất lượng và kinh doanh giống lúa tại các tỉnh trong vùng hiện nay và thời gian tới.

(Theo Báo NNVN)

Thứ Hai, 15 tháng 11, 2010

Gạo xuất khẩu: Giá tốt vẫn thiệt!

LUAGAO- Trong diễn văn khai mạc Đại hội lúa gạo quốc tế lần thứ 3, sáng 9/11/2010 tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: “Sản xuất lúa gạo gắn liền với truyền thống lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc VN. Cây lúa có vị trí rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và đời sống người VN..."

Theo Hiệp hội Lương thực VN (VFA), tính đến 5/11/2010, lượng gạo XK của VN đã gần cán mốc 6 triệu tấn. Kết quả XK gạo của 5 ngày đầu tháng 11, với 73.652 tấn gạo (trị giá 34,104 triệu USD) đã nâng tổng sản lượng gạo XK từ đầu năm lên 5,911 triệu tấn, đạt giá trị 2,505 tỷ USD. Nhìn vào đơn giá bình quân 423,78USD/tấn gạo XK, tuy chưa thể hài long, song nhìn lại kết quả XK gạo và giá bình quân 407,09USD/tấn của năm 2009, thì đây cũng là điều đáng mừng - XK ít hơn hàng trăm ngàn tấn nhưng kim ngạch cao hơn so với cả năm ngoái và thời gian XK vẫn còn gần 2 tháng.

Tuy nhiên, điều nghịch lý là, ở một đất nước nông nghiệp mà lúa gạo vẫn chiếm tỷ trọng khá lớn và quan trọng như VN, lại đã hai lần “cứu” nền kinh tế khi gặp khủng hoảng, nhưng người làm ra lúa gạo chẳng thể “cười như được mùa” khi quá trình vận động của lúa gạo vẫn còn rất nhiều điều bất cập.

Gạo xuất khẩu: Giá tốt vẫn thiệt!, Thị trường - Tiêu dùng, xuat khau gao, giá gạo, xuất nhập khẩu, doanh nghiệp, kinh tế

Khi giá gạo xuất khẩu tốt, người nông dân cũng không được lợi

Giáo sư C. Peter Timmer thuộc Trung tâm phát triển toàn cầu (Center for Global Development), chuyên gia hàng đầu về thị trường lúa gạo thế giới cho rằng: “Một lượng lớn gạo mua bán trên thế giới, trong đó có cả ở VN, được giữ bí mật về giá. Nông dân không thể đoán biết thị trường gạo tương lai nếu cung cầu và giá gạo không được minh bạch. Và họ thường bị thiệt ngay cả khi thế giới giá tốt”. Đó là bởi, theo vị giáo sư này, chính phủ của hầu hết các quốc gia sản xuất lúa gạo đã can thiệp vào hạt gạo, xem nó như mặt hàng chiến lược an ninh lương thực, sự ổn định sẽ gắn liền với chính thể. Do vậy, hệ luỵ từ chính sách tiềm ẩn yếu tố “chính trị hoá hạt gạo” đã can thiệp vào hệ thống phân phối, XNK khiến cho giá lúa gạo nội địa thường bị điều tiết bởi tính chủ quan của nhà nước hơn là theo quy luật thị trường; bởi lúc đó, hạt gạo phải gánh trách nhiệm bình ổn giá cả - nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự bất ổn.

Theo các chuyên gia, Nghị định số 109/2010/NĐ-CP ngày 4/11/2010, có hiệu lực từ 1/1/2011) về kinh doanh xuất khẩu gạo do Thủ tướng Chính phủ ban hành sẽ tạo ra thay đổi lớn trên thị trường lúa gạo. Đầu tiên là cơ cấu lại thành phần DN tham gia xuất khẩu và tiếp theo là chuẩn bị cho ngành lúa gạo trước làn sóng “đổ bộ” của thương nhân nước ngoài khi VN mở cửa thị trường gạo vào đầu năm 2011.

Nghị định buộc các DN có trách nhiệm hơn với nông dân, bằng chính việc đầu tư vào công đoạn chế biến, dự trữ nhằm nâng cao giá trị hạt gạo thay vì chỉ nhăm nhăm tìm kiếm lợi nhuận. Điều đó tạo ra sức nâng cho khu vực nông thôn, và đặc biệt là nông dân vốn còn yếu kém về nhiều mặt.

Theo 24h.com

Chủ Nhật, 7 tháng 11, 2010

Doanh nghiệp nào thiết tha sản xuất lúa giống?

SX giống lúa F1 Nhị ưu 838 trên cánh đồng Mường Lò

LUAGAO - So với hàng chục tổ hợp lúa lai Trung Quốc, hai giống lúa lai mang thương hiệu Made in Việt Nam là TH 3-3 và VL20 được nông dân chấp nhận, cạnh tranh được. Còn lại, nhiều giống lúa lai do các nhà khoa học Việt Nam lai tạo thì sớm chết yểu. Một câu hỏi đặt ra: Các nhà khoa học Việt Nam kém tài hay các DN không thiết tha SX giống?

Bài viết này chúng tôi không lạm bàn chuyện các nhà khoa học Việt Nam kém tài, việc này để các nhà khoa học lên tiếng. Bởi, lai tạo thành công một giống lúa liên quan tới nhiều vấn đề, không chỉ tài năng niềm say mê của nhà khoa học mà còn kinh phí, máy móc, trang thiết bị cho nghiên cứu và chế độ đãi ngộ nhà khoa học. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập một vấn đề: DN nào thiết tha SX lúa giống?

Chúng tôi thử đưa ra một vài con số ví dụ: Trung bình mỗi tỉnh có từ 2- 3 DN cung ứng giống, 20-30 cửa hàng bán giống, thì cả nước sẽ có khoảng 190 đơn vị kinh doanh giống (lớn) và trên 1.800 cửa hàng bán giống. Trong khi đó những DN sản xuất giống, nhất là giống lai chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Điều này lý giải vì sao các giống ngô lai, lúa lai ngoại đang làm mưa làm gió trên thị trường Việt Nam. Họ đưa ra bất cứ giá nào (tuỳ thuộc vào năng suất, chất lượng) người nông dân cũng phải chấp nhận. Mơ ước của nông dân Việt Nam về giá giống rẻ là điều xa vời, các công ty giống ngoại quốc sẽ còn thao túng thị trường Việt Nam đến khi nào thì không ai đoán được.

Ông Nguyễn Thanh Lâm - PGĐ TTKN Quốc gia đã phát biểu những lời gan ruột sau khi đi thăm cánh đồng SX lúa lai LC25, LC212, LC70 do Trung tâm Giống NLN Lào Cai chọn tạo: Chúng ta đang khuyến khích, lôi kéo các DN tham gia nghiên cứu, SX lúa giống. Nhưng nhiều DN không thiết tha, họ chỉ lo mua và bán giống. Sản xuất giống lúa lai đòi hỏi công nghệ cao và tốn kém rất nhiều tiền bạc, Lào Cai là một tỉnh nghèo nhưng đã dành một phần kinh phí đáng kể cho việc nghiên cứu, chọn tạo và tổ chức SX thành công giống lúa lai là việc làm rất đáng biểu dương…

TTGNLN Lào Cai từ nhiều năm nay đã phối hợp với một số đơn vị nghiên cứu của nước ngoài lai tạo, SX một số tổ hợp lai. Năm 2009 SX được 315 tấn lúa lai F1: LC25, LC212, VL20, năm 2010 SX được gần 400 tấn giống lúa lai F1 các loại. Giống lúa LC212 đã được Cty CP Giống cây trồng Trung ương ký biên bản ghi nhớ mua bản quyền, nhưng với rất nhiều lý do đến nay việc mua bán đó vẫn dừng ở trên giấy.

Từ năm 2008 Viện KHKTNLN miền núi phía Bắc triển khai dự án “Tăng cường năng lực cải tiến giống và SX lúa vùng cao” tại các tỉnh: Hà Giang, Bắc Kạn, Yên Bái, Phú Thọ giúp các hộ nông dân SX một số giống lúa thuần chất lượng cao: N46, T10, Chiêm hương, HT1, BT13, DT122, KD18, Ải Lùn 32… là những giống lúa thuần do các nhà khoa học, các viện nghiên cứu lai tạo, chọn lọc từ nhiều vùng sinh thái khác nhau. Khi dự án chấm dứt thì các mô hình đó cũng dần teo đi, nông dân lại đi tìm mua các giống từ các đại lý, cửa hàng.
Ông Dương Đức Huy - GĐ TTGNLN Lào Cai cho biết: SX lúa giống không dễ như người ta tưởng, may mắn thì ít, rủi ro thì nhiều. Chúng tôi chỉ ngủ ngon khi nông dân đã gặt xong lúa mà không có ý kiến gì… TTGCT Yên Bái năm 2009 SX được trên 50 tấn Nhị ưu 838, năm 2010 chỉ SX được 30 tấn. Giải thích điều này, ông Nguyễn Đại Hải - GĐ Trung tâm cho biết: Do không mua được giống bố mẹ, nên Trung tâm liên kết với Cty Cường Tân SX giống lúa TH 3-3 được khoảng 20 tấn và một ít LC25.

Trao đổi với chúng tôi, lãnh đạo một số DN cung ứng giống chẳng cần giấu giếm: SX lúa giống không dễ dàng gì, chi phí lớn, thời gian quay vòng vốn lâu mà lờ lãi chẳng được bao nhiêu, trong khi đó rủi ro lại rất lớn. Mua và bán giống thời gian quay vòng vốn nhanh, đơn vị SX giống bảo hành cho mình nên không ngại lắm. Một số giống chúng tôi SX chỉ để phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương, giống như chuồn chuồn đập nước, chứ không thể liều lĩnh được…

Thị trường giống lúa lai mấy năm nay luôn luôn nóng, chúng ta đang trong vòng xoáy của sự thiếu hụt nguồn giống chất lượng cao, sự lệ thuộc vào nước ngoài khiến nông dân phải chịu giá cắt cổ. Bao giờ Việt Nam mới chủ động được nguồn giống? Bao giờ các DN mới thiết tha SX giống? Đó là những điều không dễ dàng trả lời được ngay.

Thứ Năm, 4 tháng 11, 2010

Giống lúa lai Trung Quốc đang vống lên

LUAGAO - Đến hẹn lại lên, bắt đầu từ tháng 11 các DN cung ứng giống của Việt Nam lại lục tục kéo nhau lên cửa khẩu Lào Cai hoặc Lạng Sơn, Móng Cái (Quảng Ninh) để thương thảo mua các loại giống lúa lai của Trung Quốc.

Theo dõi thị trường giống lúa mấy năm nay các DN Việt Nam đều ở thế yếu, nghĩa là không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận giá lúa do các DN của TQ đưa ra, giá lúa giống vụ xuân 2011 đang được phía đối tác thổi phồng

Sự lệ thuộc giống lúa lai nhập khẩu từ TQ của nhiều địa phương và các DN kinh doanh giống ngày càng nhiều hơn. Những năm trước đây cửa khẩu Lào Cai là nơi nhập khẩu chính các giống lúa lai của Trung Quốc, có năm nhập đến 10.000-12.000 tấn. Các DN nhập khẩu giống của Việt Nam được các đơn vị SX giống của TQ mời đi tham quan, tiệc tùng, quà cáp đủ kiểu, cốt để mua giống của họ. Các DN phía TQ cũng rất thoáng, họ cho “gửi giá” thoải mái, nhờ thế mà nhiều GĐ DN phía Việt Nam giầu bốc lên nhanh chóng sau vài vụ nhập khẩu giống. Bởi giá lúa giống cao bao nhiêu thì nông dân chịu, chứ DN bán giống có phải chịu đâu?

Cty Giống cây trồng Thịnh Dụ chưa có người giao dịch

Mấy năm nay các DN phía TQ bắt đầu tãi đầu mối bán hàng sang cửa khẩu Móng Cái, Lạng Sơn chứ không chỉ bán qua cửa khẩu Lào Cai, khiến cho các DN của Việt Nam buộc phải chạy theo họ. Vì thế lượng giống lúa lai nhập qua cửa khẩu Lào Cai giảm xuống còn 7.000 rồi 6.000 tấn/năm, năm 2010 còn khoảng 3.500 tấn, trong khi đó cửa khẩu Móng Cái và Lạng Sơn lượng giống nhập qua đó lại tăng.

Khi nông dân và DN Việt Nam đã “nghiện” các giống lúa lai của TQ, thì khi đó giá giống được đẩy lên cao vút trời, xin nêu ví dụ: Giá lúa lai vụ xuân 2008: Giống phổ biến Nhị ưu 838 giá 10 nhân dân tệ/kg; vụ xuân 2009 giá lên 12-13 tệ/kg, tương đương 30.000-35.000đ/kg, còn một số giống độc quyền thì giá thấp nhất cũng 15 tệ/kg, tương đương 40.000-42.000đ/kg; vụ xuân 2010, Nhị ưu 838 giá trung bình 15 tệ/kg, nhưng thanh toán bằng đô la 1,8 USD/kg; vụ mùa 2010 giá Nhị ưu 838 được đẩy lên 18,5 tệ/kg.

Tất cả các DN của TQ đều thống nhất giá bán cho các DN của VN như vậy. Tuỳ từng DN có mối quan hệ “hữu hảo” lâu đời thì được bớt 1-1,5 giá. Họ kêu khan hiếm giống với những lý do đã quá quen thuộc: Động đất, hạn hán, mưa bão… nên mất mùa, một số tổ hợp giống phía TQ đã bỏ, chỉ SX bán cho Việt Nam thôi, nên giá thành cao. Ví như Nhị ưu 838 các DN phía TQ đều nói: Nông dân TQ không trồng giống lúa này, nên các đơn vị SX giống cũng không làm, họ làm để bán cho Việt Nam thôi…

Cty Giống Tứ Xuyên thì cửa mở he hé

Mới đây PV NNVN đã có mặt tại Hà Khẩu tìm hiểu giá giống lúa lai. Cùng thời gian này mọi năm thì các văn phòng bán giống của TQ đã mở cửa, còn năm nay thì cửa đóng then cài, một số văn phòng có người nhưng không có phiên dịch, nên “sư bố tủng” (tôi không hiểu). Bà Nguyễn Thị Yên, GĐ Cty CP VTNN Lào Cai cho biết: Trước đây khoảng cuối tháng 9 các DN của TQ đã gọi điện cho mình nheo nhéo gạ mua hàng, hai năm nay thì không. Cuối tháng 10 tôi gọi điện cho mấy DN bán giống vào số điện thoại Việt Nam và TQ thì họ chả thèm nghe, còn người nghe thì trả lời chủng chẳng: Năm nay chưa biết thế nào đâu, tôi đang ở Tứ Xuyên nhá…; nghe mà tức.

Bà Yên nói thêm: Thứ bảy vừa rồi tôi có sang làm việc với Cty Giống Tân Tân, là bạn hàng truyền thống của Lào Cai, họ trả lời thế này: Năm nay thu hoạch gặp mưa, giống bị thối nhiều, Cty chỉ có khoảng 500 tấn Nhị ưu 838, nhiều DN Việt Nam đặt hàng, nên cũng chỉ bán cho mỗi DN một ít, giá 20 tệ/kg. Các DN Afghanistan mua tại ruộng đã 19 tệ/kg rồi, không phải kiểm nghiệm như ở Việt Nam, thanh toán bằng nhân dân tệ, chứ không phải bằng đô la nhá…

Ông Nguyễn Văn Vững, nguyên là GĐ TTG Yên Bái được một DN mời làm cố vấn đi thương thảo mua bán giống cho biết: Cty Tân Tân chỉ tiếp từng DN một, họ cho biết năm nay Cty chỉ có 280 tấn Nhị ưu 838, giá 20 tệ/kg nếu không mua thì trả lời ngay để họ bán cho DN khác. Nghĩa là họ chả cần mình, giá cả là như vậy, qui đổi ra tiền Việt Nam hiện đang là 3.050đ/tệ, thì mỗi cân giống trên 60.000đ, đắt quá trời.

Chúng tôi liên lạc với phiên dịch của Cty Long Bình, được người này cho biết: Năm nay lượng giống XK sang Việt Nam giảm 70%, Nhị ưu 838 có khoảng 600 tấn, Nhị ưu 63 khoảng 60 tấn, Nghi Hương 305 khoảng 80 tấn. GĐ kinh doanh quốc tế đang ở Tứ Xuyên chưa về Hà Khẩu nên chưa biết giá cả thế nào…Giá giống lúa lai của TQ đang được các đối tác thổi lên ngất trời, nhất là tình hình lũ lụt miền Trung khu vực SX lúa giống lớn của Việt Nam bị thiệt hại, càng tạo cơ hội cho các DN phía TQ làm nâng giá.

(Theo Báo NNVN)