Thứ Năm, 29 tháng 11, 2012

ÁP dụng tiến bộ kỹ thuật hiệu quả


Lão nông Võ Văn Đỏ, "chuyên gia" SX lúa giống xã Vĩnh Công, huyện Châu Thành rất hài lòng với TBKT của Hợp Trí

LUAGAO - “Thực sự chúng tôi rất đắn đo khi sử dụng quy trình kỹ thuật của Cty Hợp Trí cho toàn bộ diện tích lúa của trại giống Hòa Phú”, ThS Trịnh Hoàng Việt, PGĐ Trung tâm Khuyến nông Long An chia sẻ.

"Ngả mũ bái phục"


Lý do đầu tiên khiến ông Việt e ngại bởi, năm nay trại Hòa Phú SX giống Nàng hoa 9, một giống lúa thơm chất lượng rất cao nhưng cũng rất mẫn cảm với các điều kiện bất lợi và sâu bệnh hại. Đây chỉ là một quy trình kỹ thuật chưa được công nhận là TBKT. Nhưng khi TTKN Long An áp dụng thì dưới con mắt người dân, quy trình đấy mặc nhiên đã được công nhận!


Tuy có e dè nhưng thực tế diễn ra trên 423,4 ha của 242 hộ SX cánh đồng mẫu lớn ở xã Tuyên Thạnh, huyện Mộc Hóa vụ HT vừa mới thu hoạch đã thúc giục TTKN Long An tiếp tục sử dụng quy trình.


Tại mô hình trên, tổng chi của ruộng áp dụng quy trình kỹ thuật của Hợp Trí thấp hơn ruộng đối chứng (để dân tự do SX theo thói quen) bình quân 1.991.820 đ/ha nhưng lợi nhuận lại cao hơn 8.729.320 đ/ha.


Tạo nên sự khác biệt nêu trên, chủ yếu do sự chênh lệch về năng suất, năng suất ở ruộng theo quy trình của Hợp Trí (đạt bình quân 6,75 tấn/ha), còn năng suất ruộng đối chứng SX theo tập quán của bà con nông dân chỉ đạt 5,3 tấn/ha.

Đấy là với lúa thịt, còn với lúa giống thì ngoài năng suất, điều căn bản hơn là chất lượng hạt giống. Tại buổi tham quan ngày 26/11 vừa qua, gần 50 nông dân chuyên SX lúa giống của tỉnh Long An đều thừa nhận chất lượng lúa giống Nàng hoa 9 của trại Hòa Phú khi SX theo quy trình của Hợp Trí đều có mã lúa đẹp hơn hẳn ruộng của họ.

Ông Võ Văn Đỏ, 73 tuổi, ngụ tại ấp 2 xã Vĩnh Công (huyện Châu Thành), nguyên nhà giáo nghỉ hưu, chuyên SX lúa giống gần 20 năm nay khi vuốt từng bông lúa phải tấm tắc: Giống Nàng Hoa 9 mà không có lép cậy, hạt lúa đều, sáng như rày là siêu lắm.

Anh Nguyễn Hoàng Quân, ấp Bình Trị 2, xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành, người mỗi năm thuê hơn 200 ha ruộng để chuyên SX lúa giống từ 8 năm nay, trong đó 7 ha thuê lại trại giống Hòa Phú cùng làm giống Nàng Hoa 9, cấy cùng ngày nhưng đã phải ngả mũ bái phục khi 2 đám ruộng cách nhau chỉ một con đường nhưng có mã lúa khác hẳn nhau.


Lấy dinh dưỡng làm nền tảng

Khác với những công ty BVTV khác, quy trình thâm canh lúa của Hợp Trí được xây dựng đảm bảo cây lúa khỏe ngay từ sơ sinh dựa vào một chế độ dinh dưỡng hợp lý nhất cho cây. KS Nguyễn Ngọc Chiểu, Phòng Kỹ thuật của Cty Hợp Trí, tác giả của quy trình cho biết: "Chúng tôi nghĩ rằng, cây lúa cũng như con người, nếu khỏe thì sức đề kháng cao nên không những sẽ hạn chế “cảm mạo, nhức đầu, sổ mũi khi trái gió trở trời” mà còn giảm thiểu được sâu bệnh hại.


Theo nguyên lý đó, quy trình của chúng tôi là tổng hợp nhiều giải pháp, tiến bộ đã được đúc kết từ việc làm đất, chọn giống, lượng giống, gieo sạ né rầy… Cái khác chăng chỉ là hạn chế tối đa dùng thuốc, chất kích thích tăng trưởng, khi bất khả kháng phải dùng thuốc thì sử dụng thuốc ít độc nhưng có hiệu quả cao".


Để làm được việc đó, Hợp Trí đã đưa một số dinh dưỡng cao cấp vào quy trình, chẳng hạn đưa Super Humic thay cho việc xử lý hạt giống bằng hóa chất, axit humic được bố trí bón lót, tẩm hạt giống trước lúc gieo cấy. Với hàm lượng axit humic đậm đặc lên đến 70% (chưa kể 20% axit fuvic) sẽ làm cho bộ rễ phát triển mạnh ngay nên cây lúa sẽ khỏe.

Theo Sở NN-PTNT Long An, chương trình cánh đồng mẫu lớn vụ ĐX 2012 - 2013 của tỉnh này vẫn tiếp tục mở rộng, trong đó mô hình ở xã Tuyên Thạnh, huyện Mộc Hóa được Hợp Trí chuyển giao quy trình người dân vẫn thiết tha tiếp tục, bởi lợi nhuận, tính bền vững và sức khỏe cho cộng đồng và môi trường của quy trình này mang lại.

Tương tự, việc sử dụng hydrophos có hàm lượng lân lên tới 44% sẽ thúc đẻ nhánh khỏe, tập trung, sử dụng casi có hàm lượng CaO dễ tiêu rất cao làm cho cây cứng, chống ngã đổ nên năng suất vẫn đạt mà hạn chế được sâu bệnh…

Việc sử dụng phân bón đủ, cân đối kết hợp với các dinh dưỡng bổ sung làm cho cây cường tráng để giảm thiểu thuốc BVTV là không khó về mặt kỹ thuật nhưng lại khó về mặt kinh tế. Làm sao để chi phí, bao gồm cả lao động không bị đội lên?

Trên thực tế, Hợp Trí đã làm được, chi phí khi áp dụng quy trình không những không bị đội lên mà còn luôn thấp hơn. Nếu nông dân tuân thủ quy trình chặt chẽ thì lượng phân NPK chỉ sử dụng trong mức 70 N - 50 P2O5 - 50 K2O, thấp hơn mức 110 N - 50 P2O5 - 40 K2O của ruộng ngoài mô hình, tính ra chỉ riêng đạm, áp dụng theo quy trình Hợp Trí đã giảm được 1,5 bao urê/ha.


Nguồn Báo NNVN

Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012

Giống lúa Việt ở châu Phi

LUAGAO - Vào năm 1966 tại Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) ở Philippines, giống lúa cao sản ngắn ngày đầu tiên được phóng thích. Vào những thập niên 60 và 70 của thế kỷ trước, nước ta chủ yếu trồng các giống lúa mùa địa phương truyền thống và giống lúa cao sản nhập nội từ IRRI. Tuy nhiên từ thập niên 80 trở về sau, các nhà khoa học VN đã lai tạo, chọn lọc, tạo ra những giống lúa cao sản phù hợp cho nhiều vùng sinh thái khác nhau ở trong nước. Những giống lúa này có mang gen di truyền từ nhiều vùng miền trên thế giới nên khả năng thích ứng rộng. Một số các giống lúa triển vọng này đang hiện diện tại châu Phi. Liberia và Sierra Leone Liberia và Sierra Leone là hai nước láng giềng ở vùng Tây Phi. Phía tây nam hai nước này giáp Đại Tây Dương. Những nước Tây Phi có thuận lợi là lượng mưa cao trong năm. Tại Liberia, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào khoảng tháng 10. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 4.320 mm. Đất ở đây tương tự như miền Đông Nam bộ của VN nhưng do lượng mưa nhiều nên đất xói mòn, tích tụ xuống vùng thấp hình thành những vùng đầm lầy bằng phẳng, có tiềm năng phát triển lúa nước. Ở Liberia cũng có những vùng đồng cỏ savanna có thể giữ nước mùa mưa trong năm trồng một vụ lúa thâm canh. Trên vùng đất phù sa đầm lầy tại Madina thuộc bang Grand Cape Mounth cách thủ độ Monrovia 150 km về hướng Tây Bắc, pH chua, 13 giống lúa đưa từ VN sang đã được trồng nghiên cứu. Những giống triển vọng nhất là OM6976, OM3536, OM8923. Các giống lúa VN trồng tại Liberia kéo dài thời gian sinh trưởng khoảng nửa tháng so với trồng ở VN. Giống N19 của Trung tâm Lúa gạo châu Phi (African Rice Center) cũng cho kết quả tốt, nhưng dài ngày hơn các giống của VN. Ở tại một điểm khác là trang trại Omega, cách trung tâm thủ đô Monrovia khoảng 30 km, những giống lúa cho kết quả triển vọng nhất là OM4900, OM3536 và OM5199. Trong khi đó Sierra Leone có đất đai, khí hậu thời tiết tương tự như Liberia. 50 giống lúa VN đã mang sang thử nghiệm. Giống lúa cho kết quả tốt nhất là OM2514. 


Nhóm chuyên gia trồng lúa VN ở Châu Phi

Rwanda
Nước Rwanda ở miền Trung châu Phi, nằm trong nội địa không tiếp giáp với biển và còn có tên gọi là đất nước ngàn đồi. Với độ cao trung bình 2.740 m so với mực nước biển. Khí hậu giống như Đà Lạt của VN với nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 23 độ C. Lượng mưa trung bình khoảng 830 mm/năm. Đất dưới thung lũng có nhiều chất hữu cơ, pH thấp và được sử dụng trồng lúa. Trên 20 giống lúa từ VN được đưa sang, trồng so sánh với các giống châu Phi. Kết quả thí nghiệm trong năm 2003 - 2004 cho thấy giống OM 4498 cho kết quả nổi trội nhất, chống chịu lạnh rất tốt, năng suất cao nhất, không bị lép do lạnh như những giống khác. Sudan Sudan ở miền Đông Bắc châu Phi có phía đông giáp với biển Đỏ. Đất đai ở Sudan còn rất rộng lớn nhưng chưa được khai thác đúng mức. Lượng mưa trung bình hàng năm thấp chỉ khoảng 416 mm/năm, nhưng đất nước này có nguồn nước dồi dào từ sông Nile Xanh ở phía đông và sông Nile Trắng ở phía tây. Hợp lưu của hai sông tại thủ đô Khartoum và chảy qua Ai Cập, đổ về biển Địa Trung Hải. Về phía Bắc cách thủ đô Thủ đô Khartoum 300 km trên vùng sa mạc Sahara, lúa cũng được thử nghiệm trên đất phù sa kiềm (pH = 7,5 - 8) dọc sông Nile, xen kẽ với những vườn chà là chắn gió. Tuy nhiên tiềm năng phát triển lúa gạo trên diện rộng ở vùng sa mạc này không cao. Tại đây vào cuối tháng 1/2011, 50 giống lúa từ VN được gieo trồng trong vụ xuân. Cây lúa thấp hơn ở VN khoảng 15 -20 cm nhưng thời gian sinh trưởng kéo dài thêm khoảng 30 - 60 ngày tùy từng giống. Qua khảo sát, các giống có triển vọng là: OM8105, OM6706, OM6916, OM6698, OM10029, OM4900 và OM6014. Vùng có tiềm năng nhất là vùng đất phù sa có tưới thuộc bang sông Nile Trắng và bang Gezara nằm giữa sông Nile Trắng và sông Nile Xanh. Thời vụ tốt nhất để trồng lúa tại vùng này là gieo trong khoảng thời gian từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 7 hàng năm. Lưu ý sử dụng hóa chất diệt cỏ. Khi lúa trổ trùng khớp với mùa thu hoạch cao lương vào tháng 11-12 thì ít bị chim phá hoại. 54 giống lúa cao sản VN được trồng trong mùa mưa vào tháng 7 năm 2010 trên vùng đất phù sa ven sông Nile trắng có pH là 8,3. Các giống triển vọng nhất kết luận được là OM2514, OM8923, MTL466, AS996 và OM4218. Mozambic Nước Mozambic nằm ở vùng duyên hải Ấn Độ Dương, Đông Nam châu Phi thuộc vùng khí hậu nhiệt đới với hai mùa mưa nắng. Mùa mưa trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 3 hằng năm, lượng mưa trung bình 590 mm/năm. Nhiệt độ 13-24 độ C trong tháng 7 và 22-31 độ C trong tháng 2. Có 13 giống lúa từ VN được mang sang thí nghiệm và nhân giống từ năm 2010 đến đầu năm 2012, trong đó 3 giống cho kết quả ưu việt nhất là OM2514, OM6979, OM6162 với năng suất biến thiên 7-8 tấn/ha. Điểm đặc biệt nhất ở Mozambic là bên cạnh việc nghiên cứu kết luận các giống lúa VN phù hợp trong vùng, các chuyên gia nước ta còn tập huấn kỹ thuật canh tác lúa cho người dân địa phương và nhân được một số lượng lớn lúa giống phục vụ SX ra trên diện rộng. Tổng sản lượng hạt giống thu được 240 tấn vào đầu năm 2012.

PGS.TS DƯƠNG VĂN CHÍN - NNVN

Thứ Năm, 19 tháng 7, 2012

Ấn tượng máy làm mạ khay

LUAGAO - Trong chuyến tham quan học tập kinh nghiệm xây dựng chương trình nông thôn mới và triển khai mô hình cánh đồng mẫu lớn tại tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc vừa qua, cán bộ Trung tâm Khuyến nông, Chi cục Phát triển nông thôn hết sức ấn tượng bởi cách làm mạ khay của nông dân nước này.

Dây chuyền làm mạ khay tại Triết Giang
- Theo ông Dũng, Phó trạm trưởng Nông viện cơ giới TP Kim Hoa (Chiết Giang), mô hình làm mạ khay trên máy hiệu quả kinh tế rất cao, mỗi thôn chỉ cần trang bị 1 máy là đủ năng lực cung cấp mạ, xuống giống đồng loạt kịp theo lịch thời vụ để hạn chế sâu bệnh cũng như thời tiết bất thuận.
Quy trình làm mạ khay trên dây chuyền này rất đơn giản và dễ vận hành, người nông dân chỉ cần quan sát một lần là có thể thành thạo. Hơn nữa chi phí cho chiếc máy này tương đối rẻ, chỉ khoảng hơn 20.000 NDT, tương đương 65 triệu VNĐ. Hiện loại máy làm mạ khay này đang được nhà SX máy nông cụ Lion chào bán rất nhiều cùng với các loại máy làm đất, máy gặt đập liên hợp, máy cấy tại thị trường VN.

Mạ sắp đến tuổi xuống đồng trong hệ thống nhà lưới
Ông Dũng giải thích thêm, trước khi đưa nguyên liệu làm mạ khay lên dây chuyền, người dân cần lấy phân trâu bò ủ hoai rồi trộn với đất và nước đã sát trùng để diệt trừ mầm bệnh. Sau đó tiến hành các bước đưa đất lên máy và đổ thóc giống vào phễu để máy chạy rồi đón khay mạ đưa vào nhà lưới. Chỉ sau 7 ngày là mạ lên đúng thời điểm có thể đưa ra đồng chuyển lên máy cấy.
Ông Nguyễn Quang Hùng, cán bộ Trung tâm Khuyến nông Bắc Giang cho biết, ông sức ấn tượng với mô hình cơ giới hóa đồng bộ trong SX lúa của nông dân Triết Giang. Mặc dù ở Bắc Giang đã trình diễn máy cấy của KUBOTA từ vụ mùa 2012, nhưng việc triển khai chưa được đồng bộ do đồng ruộng manh mún. Hy vọng thời gian tới Nhà nước sẽ có chính sách hỗ trợ máy cấy, máy làm mạ khay cho các tổ hợp tác, HTX thì việc triển khai sẽ hiệu quả hơn.






(Theo Báo NNVN)

Thứ Bảy, 7 tháng 7, 2012

Gian nan tiêu thụ lúa gạo cuối năm

LUAGAO - Ngày 5/7, tại TP HCM, Bộ Công thương cùng Hiệp hội Lương thực Việt Nam đã tổ chức hội nghị sơ kết XK gạo 6 tháng đầu năm và định hướng 6 tháng cuối năm 2012. Mối băn khoăn lớn tại Hội nghị là khả năng xuất khẩu gạo 6 tháng cuối năm và thu mua tạm trữ lúa hè thu ở ĐBSCL.

Lo Thái Lan, Myanmar…

Theo ông Phạm Văn Bảy, Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), trong 6 tháng đầu năm nay, các doanh nghiệp đã đăng ký hợp đồng xuất khẩu 5,288 triệu tấn gạo. Trong đó, 3,414 triệu tấn đã được giao cho khách hàng nước ngoài. Như vậy, lượng gạo đã xuất khẩu trong 2 quý vừa qua cao hơn so với dự kiến trước đây tới 300-400 ngàn tấn, nhưng vẫn thấp hơn 500 ngàn tấn so với cùng kỳ 2011.

Đến nay, trong kho của các doanh nghiệp vẫn còn tồn 1,688 triệu tấn gạo. Lượng gạo hàng hóa trong 6 tháng cuối năm vào khoảng 3,2 triệu tấn (2,9 triệu tấn vụ hè thu và 0,3 triệu tấn vụ thu đông). Như vậy, lượng gạo hàng hóa từ nay đến cuối năm là 4,888 triệu tấn. Trên cơ sở đó, VFA đề ra định hướng về lượng gạo sẽ xuất khẩu trong 2 quý còn lại của năm nay là 3,6 triệu tấn, để đạt mức xuất khẩu cả năm trên 7 triệu tấn gạo. Còn 1,286 triệu tấn gạo sẽ được chuyển gối đầu cho xuất khẩu đầu năm 2013.


Sản lượng lúa tăng cao, XK không thuận lợi, giá lúa xuống thấp, nông dân bị thiệt hại

Hiện tại, số hợp đồng đã ký giao hàng từ 1/7 trở đi là 1,874 triệu tấn. Do đó, các doanh nghiệp chỉ cần ký hợp đồng xuất khẩu thêm khoảng 1,8 triệu tấn nữa là đạt được mục tiêu định hướng nói trên. Đây là điều không hề dễ dàng, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh trên thị trường gạo thế giới sẽ rất gay gắt trong những tháng cuối năm nay. Ông Nguyễn Thành Biên, Thứ trưởng Bộ Công thương cho rằng tất cả các phân khúc gạo đều sẽ có sự cạnh tranh rất khốc liệt. Ở Thái Lan, lượng gạo tồn kho hiện đã lên tới trên 11 triệu tấn và nước này gần như đã hết kho chứa trong khi vụ thu hoạch mới đã gần kề. Vì thế, nếu Thái Lan bất ngờ “xả hàng” trong thời gian tới, việc tiêu thụ gạo Việt Nam sẽ càng trở nên khó khăn hơn nữa. Còn theo ông Trương Thanh Phong, Chủ tịch VFA, ngoài Thái Lan, Ấn Độ và Pakistan, Myanmar cũng đang nổi lên rất mạnh và trở thành mối lo ngại lớn nhất của các nhà xuất khẩu gạo Việt Nam, khi gạo Myanmar có sự tăng mạnh về sản lượng mà giá bán lại rất thấp.

Trước tình hình đó, ông Nguyễn Thành Biên khẳng định trước hết phải làm tốt hơn nữa và giữ thật vững thị trường Trung Quốc vì đây đang là thị trường lớn nhất của hạt gạo Việt Nam, với lượng hợp đồng chính ngạch đã ký là 1,2 triệu tấn và trên 900 ngàn tấn đã được giao. Theo đó, tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp (giảm giá bán) hay vì mối lợi trước mắt mà làm mất uy tín gạo Việt Nam (trộn gạo thường vào gạo thơm theo yêu cầu của khách hàng Trung Quốc) phải được chấm dứt ngay. Đồng thời, phải thúc đẩy mạnh việc thâm nhập vào những thị trường đầy tiềm năng như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan… Theo ông Biên, với thị trường Hàn Quốc, vừa qua đã có tín hiệu vui là 4 doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu xuất khẩu gần 30 ngàn tấn gạo vào nước này. Nhật Bản sau 5 năm ngưng nhập khẩu gạo Việt Nam vì dư lượng hóa chất, cũng đã quay lại mua thăm dò. Ngoài ra, trong 6 tháng cuối năm nay, Bộ Công thương cũng sẽ đẩy mạnh xúc tiến thương mại gạo Việt Nam ở các nước Trung Đông và châu Phi…

Tạm trữ 500 ngàn tấn quy gạo

Xét đề nghị của Bộ NN-PTNT và ý kiến của các bộ, ngành liên quan, cùng ý kiến của VFA, ngày 2/7/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 821/QĐ-TTg về việc tạm trữ tối đa 500 ngàn tấn quy gạo vụ hè thu 2012 ở ĐBSCL. Thời gian mua tạm trữ từ 10/7 đến 10/8/2012. VFA được giao tổ chức phân giao cho các thương nhân mua lúa gạo tạm trữ. Ngân sách nhà nước sẽ hỗ trợ 100% lãi suất tiền vay mua lúa, gạo tạm trữ trong thời gian tối đa là 3 tháng (từ 10/7 đến 10/10/2012).

Theo ông Trương Thanh Phong, giá thành lúa hè thu ở nhiều địa phương lên tới trên dưới 4.500 đ/kg cho thấy chi phí sản xuất lúa đã bị đẩy lên quá cao. Với giá thành này, các doanh nghiệp đang ở trong tình trạng “tiến thoái lưỡng nan”, vì mua giá thấp sẽ không đảm bảo lợi nhuận cho nông dân, còn mua giá cao, doanh nghiệp rất dễ bị thua lỗ nặng nề do giá gạo Việt Nam hiện đã ở mức thấp nhất trên thế giới (chỉ tính những nước xuất khẩu chính).


Ông Nguyễn Thành Biên cho hay, các bộ, ngành và VFA đã cân nhắc kỹ lưỡng và thống nhất rằng chỉ nên mua tạm trữ 500 ngàn tấn quy gạo, bởi nếu mua hơn sẽ gây thêm áp lực cho ngân sách nhà nước. Bởi những lần tạm trữ trước đây với mức 1 triệu tấn quy gạo, lần nào nhà nước cũng phải bù lỗ hàng trăm tỷ đồng cho các doanh nghiệp tạm trữ không lãi suất trong thời hạn 3 tháng.

Mối băn khoăn nhất hiện nay là giá sàn tạm trữ lúa gạo vụ hè thu này sẽ là bao nhiêu? Trong Quyết định nói trên của Thủ tướng Chính phủ, không nói rõ việc này. Trong khi đó, theo văn bản số 8605/BTC-QLG do Bộ Tài chính ban hành ngày 27/6/2012, giá thành sản xuất lúa hè thu ở các tỉnh, TP vùng ĐBSCL rất khác nhau.

Tỉnh có giá thành cao nhất là Tiền Giang lên tới 4.540 đ/kg, cao hơn tới 1.016 đ/kg so với tỉnh có giá thành thấp nhất là Kiên Giang (3.524 đ/kg). Nhiều tỉnh khác cũng có giá thành trên 4.000 đ/kg, như Hậu Giang (4.367 đ/kg), Long An (4.356 đ/kg), Đồng Tháp (4.325 đ/kg), Vĩnh Long (4.137 đ/kg) và Cần Thơ (4.016 đ/kg). Như vậy, nếu lấy giá thành bình quân của cả vùng là 3.993 đ/kg để tính ra giá sàn thu mua đảm bảo cho nông dân lời tối thiểu 30% là 5.200 đ/kg, thì người trồng lúa hè thu ở những tỉnh như Tiền Giang, Hậu Giang, Long An và Đồng Tháp sẽ phải chịu thiệt khá nhiều. Bởi thế, ông Nguyễn Thành Biên cho rằng VFA cùng với các doanh nghiệp và các địa phương phải ngồi lại với nhau để giải quyết sự khác biệt khá lớn về giá thành sản xuất lúa giữa các tỉnh, TP, qua đó, tìm ra được giá sàn thu mua hợp lý nhất.

(Theo Báo NNVN)

Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2012

Hạn chế tối đa việc chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang sử dụng vào các mục đích phi nông nghiệp

LUAGAO - Bắt đầu từ ngày 1/7/2012, ngoài được hỗ trợ sản xuất lúa hàng năm, người sản xuất lúa còn được hỗ trợ sản xuất lúa bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh. Đây là một trong những nội dung vừa được Chính phủ ban hành Nghị định 42/2012/NĐ-CP về quản lý, sử dụng đất trồng lúa. 

Cụ thể, ngân sách Nhà nước hỗ trợ 70% chi phí phân bón và thuốc bảo vệ thực vật khi sản xuất lúa bị thiệt hại trên 70%; mức hỗ trợ là 50% khi sản xuất lúa bị thiệt hại từ 30 - 70%. Đồng thời, ngân sách Nhà nước cũng sẽ hỗ trợ 70% chi phí khai hoang, cải tạo đất chưa sử dụng thành đất trồng lúa hoặc cải tạo đất lúa khác thành đất chuyên trồng lúa nước; mức chi phí do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xác định. Hỗ trợ 100% giống lúa trong năm đầu để sản xuất trên diện tích đất trồng lúa mới khai hoang. Hỗ trợ 70% giống lúa trong năm đầu để sản xuất trên diện tích đất lúa khác được cải tạo thành đất chuyên trồng lúa nước. Ngoài ra, sẽ ưu tiên hỗ trợ chi phí bảo hiểm sản xuất lúa theo quy định. Nghị định cũng quy định hỗ trợ ngân sách cho địa phương sản xuất lúa. 

Đối với các năm trong thời kỳ ổn định ngân sách địa phương từ 2012 - 2015, ngoài hỗ trợ từ ngân sách nhà nước theo quy định hiện hành còn được ngân sách trung ương hỗ trợ bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương để sản xuất lúa. Cụ thể, hỗ trợ 500.000 đồng/ha/năm đối với đất chuyên trồng lúa nước; hỗ trợ 100.000 đồng/ha/năm đối với đất lúa khác trừ đất lúa nương được mở rộng tự phát không theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa. 

Nghị định nêu rõ, hạn chế tối đa việc chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang sử dụng vào các mục đích phi nông nghiệp; khuyến khích việc khai hoang mở rộng diện tích đất trồng lúa, cải tạo đất lúa khác thành đất chuyên trồng lúa nước. Việc chuyển mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước phải đáp ứng 3 điều kiện: phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng; có phương án sử dụng đất tiết kiệm tối đa, thể hiện trong thuyết minh tổng thể của dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt; tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp từ đất chuyên trồng lúa nước theo quy định phải có phương án sử dụng lớp đất mặt và bù bổ sung diện tích đất chuyên trồng lúa nước bị mất do chuyển mục đích sử dụng theo quy định. 

Nghị định cũng quy định cụ thể trách nhiệm của người sử dụng đất trồng lúa. Theo đó, người sử dụng đất trồng lúa phải sử dụng đúng mục đích theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt; sử dụng tiết kiệm, không bỏ đất hoang, không làm ô nhiễm, thoái hóa đất. Nghiêm cấm các hành vi: Gây ô nhiễm, làm thoái hóa, làm biến dạng mặt bằng của đất dẫn đến không trồng lúa được; bỏ hoang đất chuyên trồng lúa nước từ 12 tháng trở lên và đất lúa khác từ 2 năm trở lên không vì lý do thiên tai bất khả kháng./. 

(Theo TTXVN) 

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012

Nỗi lo trước vụ lúa hè thu 2012


LUAGAO - Vụ lúa HT 2012, ĐBSCL có kế hoạch xuống giống hơn 1,6 triệu ha. Nhiều vấn đề được các địa phương đặc biệt quan tâm là khô hạn, xâm nhập mặn, dịch bệnh và liên kết SX theo cánh đồng mẫu lớn (CĐML).
Trung tâm Khí tượng thủy văn Bến Tre cho biết: Tình hình xâm nhập mặn ngày càng lấn sâu vào nội đồng. Hiện tại, người dân TP Bến Tre đang sử dụng nước đã nhiễm mặn, sẽ ảnh hưởng lớn đối với SX lúa HT. Trên sông Hậu, độ mặn 4%0 cũng đã xâm nhập sâu cách cửa Trần Đề khoảng 50 km. 
Tại Hậu Giang, mặn đã về sớm hơn cùng kỳ khoảng 10 ngày. Ông Nguyễn Văn Đồng, GĐ Sở NN- PTNT Hậu Giang cho biết: Độ mặn 3%0 đã về đến các xã tiếp giáp với sông Cái Lớn từ biển Tây đi vào TP Vị Thanh và xã Hỏa Tiến, Vĩnh Viễn thuộc huyện Long Mỹ. Nếu như độ mặn năm nay bằng năm 2009 thì nguy cơ sẽ có khoảng 2.000 ha lúa HT ảnh hưởng nặng. Hiện tại, chính quyền địa phương ở các khu vực có nguy cơ bị mặn xâm nhập đã tiến hành kiểm tra, tu sửa các cống đập thời vụ.
Về lâu dài và căn cơ Hậu Giang đầu tư thi công tuyến đê bao ngăn mặn Vị Thanh- Long Mỹ. Ngoài ra một số dự án ngăn mặn triệt để như đê bao tuyến Vị Thanh- Vịnh Chèo, huyện Vị Thủy; dự án Vị Thủy- Vịnh Chèo, dự án Nam Xà No với tổng chiều dài khoảng 20 km với kinh phí dự kiến gần 300 tỷ đồng; sớm hoàn chỉnh dự án WB6 (Ô Môn- Xà No) giai đoạn 2 với gần 30 cống cấp 2.
Hậu Giang cũng kêu gọi các nhà đầu tư xây dựng hồ nước ngọt tại xã Vĩnh Tường bằng nguồn vốn ODA với diện tích hồ 100 ha để trữ nước ngọt. Ngoài giải pháp công trình, Hậu Giang phối hợp với Viện Lúa ĐBSCL thực nghiệm giống lúa OM 5464 thích nghi với điều kiện BĐKH. Giống lúa này đang được ngành nông nghiệp nhân ra để phục vụ bà con canh tác trong các vụ tới.
Thực hiện SX theo CĐML trong vụ HT này cũng được nhiều tỉnh đặc biệt quan tâm. Ông Dương Nghĩa Quốc, GĐ Sở NN- PTNT Đồng Tháp cho biết: Chủ trương phát triển CĐML là hướng mở rộng diện tích lúa chất lượng cao. Nhưng muốn bền vững thì DN tham gia ký kết hợp đồng phải mang tính chiến lược lâu dài. Bộ NN- PTNT cần có một cơ chế chính sách trong chiến lược liên kết giữa DN và nông dân thực hiện CĐML.
Liên quan đến vấn đề tiêu thụ lúa trên CĐML, ông Trần Quang Củi, PGĐ Sở NN- PTNT Kiên Giang kiến nghị: Chính phủ chỉ đạo cho DNXK gạo thuộc hệ thống Nhà nước tham gia ký hợp đồng thu mua trên CĐML. Để làm được điều này thì phải có Hiệp hội Lương thực VN tham gia. DN đặt hàng nông dân SX thì chắc chắn chất lượng gạo sẽ rất tốt, XK được giá cao, nông dân có lợi nhiều.
Công tác chỉ đạo xuống giống cần tuân thủ các nguyên tắc chung: Bố trí thời vụ né mặn, hạn ở những vùng có nguy cơ ảnh hưởng cao. Gia cố bờ bao, tu sửa hệ thống kênh mương nội đồng. Phải đảm bảo thời gian giãn vụ, cày ải, phơi đất ngay sau thu hoạch tối thiểu là 20 ngày để cách ly nguồn bệnh nhằm đảm bảo năng suất lúa HT.
Ông Đoàn Ngọc Phả, PGĐ Sở NN- PTNT An Giang nói: Từ năm 2002 đến nay việc SX theo hợp đồng có rất nhiều trở ngại, vì thế từ nay về sau khi thực hiện CĐML có DN tham gia thì phải xác định DN có nhu cầu thực sự, năng lực thật sự. Hiện tại, trên 8.000 ha lúa của An Giang đang SX theo CĐML là DN có nhu cầu. SX theo các tiêu chuẩn Viet GAP và hướng đến Global GAP và được các DN xây dựng thương hiệu riêng.
Riêng về tình hình dịch bệnh trên trà lúa HT cũng được Cục BVTV đặc biệt lưu ý. Ông Nguyễn Hữu Huân, Phó Cục trưởng Cục BVTV cho biết: Trà lúa HT sớm ở các tỉnh Long An, An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Hậu Giang đã có khá nhiều diện tích nhiễm rầy nâu, tỉ lệ rầy nâu mang mầm bệnh vẫn còn cao, các địa phương cần hết sức cảnh giác.
Hiện tại, đợt rầy tháng 4 đã qua nhưng đến tháng 5 phải cảnh giác vì có đến 2 đợt rầy di trú: Đợt 1 từ 27/4 đến 5/5; Đợt 2 từ 25/5 đến 31/5. Tháng 6 rầy nâu di trú từ 20/6 đến 25/6. Ngoài các đối tượng sâu bệnh gây hại có thể sẽ gặp rất nhiều khó khăn về nguồn nước tưới và xâm nhập mặn.
(Báo NNVN)

Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

GEPA 50WG - SỰ LỰA CHỌN MỚI TRONG PHÒNG TRỪ RẦY NÂU HẠI LÚA


LUAGAO- Theo báo cáo của Cục BVTV, từ năm 2006 – 2011 tại các tỉnh thành khu vực phía Nam, diện tích lúa bị rầy nâu gây hại chiếm hơn 2.578.250 ha và lúa nhiễm bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá hơn 283.330 ha. Nguyên nhân lúa nhiễm rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá do mùa vụ sản xuất lúa liên tục phát triển; nông dân bón thừa phân đạm; cơ cấu tỉ lệ giống nhiễm ngày càng nhiều. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ NN-PTNT và ngành NN-PTNT các tỉnh, thành đã tập trung chỉ đạo quyết liệt, hướng dẫn và đôn đốc thực hiện công tác ra quân phòng chống rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá ở từng địa phương. Kết quả đã có trên 2.174.600 ha lúa được phun thuốc trừ rầy nâu, trên 37.840 ha lúa bị nhiễm bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá bị tiêu hủy. Việc theo dõi, giám sát đồng ruộng, lắp đặt bẫy đèn dự báo rầy nâu di trú và hướng dẫn nông dân kỹ thuật phun xịt thuốc trị rầy nâu luôn được ngành nông nghiệp các tỉnh thành quan tâm thực hiện tốt.
Xác định phòng chống rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng suất, sản lượng và giá trị hạt lúa, từ nay đến năm 2015 Bộ NN-PTNT tiếp tục thực hiện các giải pháp về chính sách trong việc quản lý thuốc BVTV, chuyển giao KHKT, đầu tư nghiên cứu về giống lúa có khả năng chống chịu sâu bệnh, dịch hại tại từng địa phương. Về giải pháp kỹ thuật, Bộ tiếp tục chỉ đạo ngành BVTV các đại phương cần tích cực hướng dẫn nông dân các biện pháp “3 giảm, 3 tăng”, “1 phải, 5 giảm”, xây dựng và nhân rộng các mô hình “cánh đồng mẫu lớn”, “ứng dụng công nghệ sinh thái quản lý dịch hại tổng hợp trên đồng ruộng” và tăng cường sử dụng giống lúa xác nhận. Đặc biệt là tăng cường bố trí bẫy đèn tại các địa phương dự báo có rầy nâu di trú,  khuyến cáo nông dân xuống giống đồng loạt để né rầy và ứng dụng mạnh hệ thống canh tác lúa thích nghi với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu.
Hinh 01: Trồng hoa trên ruộng lúa
Trong chiến dịch quản lý rầy nâu, thuốc BVTV đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn kịp thời dịch hại. Việc sử dụng thuốc tràn lan, pha trộn nhiều hoạt chất, sử dụng liều tăng cao sẽ gây lên tác dụng ngược và ảnh hưởng đến môi trường. Vì thế chọn lựa một loại thuốc hiệu quả, thân thiên môi trường trong hàng trăm loại thuốc trên thị trường hiện nay là rất khó khăn. LUAGAO xin giới thiệu một loại thuốc BVTV mới, tiên tiến, hiệu quả trên rầy nâu. Đó là Gepa 50WG

Hình 02: Bao bì gói Gepa 50WG
Gepa 50WG được phiên âm Tiếng Việt từ tiếng Pháp Guépard, là tên loài Báo đốm châu phi; thể hiện cho sản phẩm tác dụng nhanh, mạnh và bền bỉ, hiệu lực kéo dài
Gepa 50WG với hoạt chất mới Pymetrozine thuộc nhóm Azomethrin pyridines. Phổ tác động có tính chọn lọc cao trên một số nhóm sâu chích hút (bộ cánh đều - Homoptera): rầy mềm, bọ phấn và rầy (rầy nâu, rầy xanh, rầy lưng trắng trên lúa), rầy nhảy, rầy chổng cánh,…
Pymetrozine thấm sâu qua phần xanh của cây và lưu dẫn toàn cây theo cả hai chiều (lên và xuống). Côn trùng trúng thuốc khi phun (tiếp xúc) hay chích phải thuốc lưu dẫn trong mô cây (vị độc) Pymetrozine sẽ tác động lên hệ thần kinh và nhanh chóng làm cho côn trùng ngừng ăn (chính tác động nầy sẽ ngăn chặn sự lan truyền virus). Các triệu chứng ban đầu có thể thấy sau 15 phút, côn trùng rút kim trong vòng 1 giờ, các triệu chứng như liệt chân, di chuyển rối loạn, ngừng chích hút và chết do đói sau 1 – 4 ngày sau khi xử lý thuốc.
Pymetyrozine phòng trừ rầy hiệu quả đối với rầy mới nở (rầy cám) và rầy trưởng thành.
Ưu điểm của Gepa 50WG
-          Thấm sâu và lưu dẫn nhanh nên hiệu quả vì không bị mưa rửa trôi.
-          Tính chọn lọc cao đối với các loài thiên địch => thích hợp chương trình IPM
-          Cơ chế tác động mới (anti-feeding hay feeding blockers) Pymetrozine diệt trừ hiệu quả côn trùng chích hút đã kháng các nhóm thuốc khác: lân hữu cơ, carbamate, chống lột xác,…
-          An toàn với môi trường, người sử dụng,
Khuyến cáo sử dụng :
Liều 15 g/16 lít phun 320 – 400 lít tùy theo giai đạon sinh trưởng
+ 30-35 ngày sau sạ: 320 lít/ha (20 bình 16 lít)
+ 40-45 ngày sau sạ: 400 lít/ha (25 bình 16 lít)
.+ Đòng – trổ: 500 lít/ha (30 bình 16 lít)
Lưu ý:
+ Hạ thấp vòi phun để thuốc tiếp xúc gần với khu vực rầy gây hại.
+ Dùng  bình phun máy với 2-3 vòi phun quay xuống (không dung vòi phun thẳng như phun rửa xe)
+ Đưa nước thêm vào ruộng, để đưa rầy lên cao d8ể phun xịt hơn.
+ Không phun liên tục 2 lần trên cùng diện tích.
+ Nên hỗn hợp hay luân phiên với các nhóm thuốc khác: Maxfos 50EC, Permecide 50EC, Thiamax 25WDG, Brightin 1.8EC, Secure 10EC để tăng hiệu quả sử dụng

NGUYỄN CHÍ CÔNG

Thứ Hai, 12 tháng 3, 2012

GS.TS Bùi Chí Bửu: Cánh đồng mẫu lớn- chiến lược lớn


LUAGAO - ĐBSCL bắt đầu thu hoạch rộ lúa ĐX, có nhiều ý kiến khác nhau về giải pháp tạm trữ lúa gạo để đảm bảo việc tiêu thụ, giữ giá lúa của nông dân. NNVN đã có cuộc trao đổi với GS.TS Bùi Chí Bửu, Phó Viện trưởng Viện Khoa học nông nghiệp VN, Viện trưởng Viện Khoa học nông nghiệp Miền Nam xung quanh vấn đề này. 
Diễn biến thị trường lúa gạo đầu năm 2012 có vẻ như không được thuận lợi cho các nước SX lúa gạo, ông nghĩ sao?
Hiện nay sản lượng lúa toàn cầu 700 triệu tấn/năm, nhưng thị trường lưu thông tiêu thụ rất hẹp, chỉ khoảng 30 triệu tấn gạo, tương ứng khoảng 60 triệu tấn lúa. Còn lại phần lớn là tiêu dùng tại chỗ, vì vậy thị trường tiêu thụ lúa gạo trở nên mỏng manh và nhạy cảm vô cùng. Những nước SX lúa gạo lớn nhất tập trung ở châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam…
Đâu là giá lúa gạo thật trên thị trường lúa gạo thế giới?
Trên thực tế thị trường lúa gạo thế giới đã có lúc giá ảo. Theo Hiệp hội lương thực thế giới (FAO) muốn đưa giá gạo trung bình về khoảng 300- 400 USD/tấn. Đó là do Liên hợp quốc muốn điều tiết các quốc gia SX lúa gạo mở kho dự trữ để kềm chế giá lúa gạo tăng. Và như đã nói, chính vì thị trường lúa gạo rất mỏng, chỉ lưu thông giao dịch 60/700 triệu tấn lúa.
Nhưng trên thị trường, gạo thơm vẫn giữ được giá, có phải đây là một hướng lựa chọn ?
Nếu chúng ta quay sang chạy theo thị trường gạo thơm, mỗi năm thị trường các nước NK chỉ có 2 triệu/30 triệu tấn gạo lưu thông. Gạo thơm có giá rất cao tựa như đi mua kim cương vậy. Nhưng có mấy người mua “kim cương”? Tôi cho rằng muốn đi theo con đường này gạo VN phải có uy tín, thương hiệu, chứ không phải chúng ta muốn làm bất cứ giá nào. Chúng ta đã thấy gạo thơm như mặt hàng cao cấp. Vài năm qua gạo thơm Thái Lan giá cao nên khách hàng chọn gạo thơm VN. Nếu chúng ta làm mất uy tín thì nguy cơ sẽ mất thị trường.
Trở lại vấn đề thực tại, giao dịch lúa tại ĐBSCL đang hiện lên mối lo lúa IR50404, ý kiến ôngnhư thế nào về vấn đề này ?
Bộ NN- PTNT khuyến cáo lúa IR50404 này dưới 20% diện tích canh tác. Vấn đề này báo chí đã nói rất nhiều. Nếu trồng giống lúa này nhiều khả năng tiêu thụ giá thấp rất cao. Tôi đã cảnh báo từ năm ngoái khả năng Ấn Độ “bung kho” dự trữ.
Vụ lúa ĐX có 1,4 triệu ha, nếu 10% tương đương 140.000 ha, 20% khoảng 280.000 ha. Như thế nếu trồng một giống lúa nào chiếm trên 30% diện tích sẽ rất nguy hiểm. Có lúc giống lúa Jasmine trồng lên tới 350.000- 400.000 ha. Đây là giống lúa cho gạo thơm nhưng rất sợ nhiễm rầy. Với lúa IR50404 có lúc lên tới 40%, gần 600.000 ha.
Tôi cho rằng trên một cánh đồng cần có 1 giống chủ lực nằm xen kẽ những giống khác, nhưng những giống kia chiếm diện tích không nhiều. Trong SX lúa cần 4- 5 giống chủ lực, còn lại giống nhỏ lẻ. Đó là cơ cấu giống cực kỳ hay, vừa đa dạng và sâu bệnh giảm đi. Nếu trồng một loại giống sẽ đơn điệu về mặt di truyền SX, tiếp sau đó quá trình thâm canh, tăng vụ sâu bệnh sẽ “đánh chết”. Trên CĐML với 300- 500 ha trồng cùng một loại giống thì được.
Theo ông, với diễn biến thị trường gạo, các DN kinh doanh XK đã nắm rõ tình hình? Giải pháp căn cơ, chủ động lâu dài là gì?
Tất nhiên các DN hiểu rõ. Chủ trương thực hiện chương trình xây dựng CĐML của Bộ NN- PTNT là để DN liên kết đầu tư. Chiến lược nghiên cứu khoa học sắp tới cũng sẽ hướng thay đổi. Trước đây nghiên cứu phục vụ đối tượng là nông dân. Nhưng khi tiến tới SX hàng hóa lớn, nông dân “tự bơi” sẽ không nổi, vì vậy đối tượng liên kết trong nghiên cứu khoa học sắp tới sẽ là DN. Chỉ có DN mới đủ sức đẩy nông dân đi lên. Đó là hướng phát triển nông nghiệp đi lên theo hướng công nghiệp. Nếu trước kia chuyển giao ứng dụng KHKT xuống tới nông dân thì sắp tới sẽ chuyển giao cho DN thiết tha với phát triển nông nghiệp nước nhà.
CĐML là giải pháp hữu hiệu?
Theo VFA, gạo thơm đặc sản của VN có giá 780- 800 USD/tấn, gạo thơm thường 650-700 USD/tấn. Năm 2011, Việt Nam xuất khẩu trên 400.000 tấn gạo thơm, cao nhất từ trước đến nay. Năm nay dự kiến đạt khoảng 500.000 tấn.
CĐML tuy thấy đơn giản nhưng là chiến lược lớn. Đất nước ta đang hướng tới trong hơn 12 năm nữa sẽ là một nước công nghiệp, vì vậy SX nông nghiệp phải tạo được đòn bẩy lớn. Trong đó DN đóng vai trò rất lớn trong đầu tư vào nông nghiệp, đẩy nền nông nghiệp đi lên mới khởi sắc được. CĐML là hình thức hợp tác hoàn toàn tự nguyện của nông dân. Cách thực hiện phù hợp với hiện trạng đồng ruộng nước ta. Dù có giới hạn mức hạn điền nhưng vẫn làm được. Nếu DN chịu bỏ vốn đầu tư vào và Nhà nước đã có cơ chế chính sách thu hút DN đầu tư vào nông nghiệp, SX một giống lúa trên một CĐML.
Tôi cho đây là chương trình khéo vận dụng thì gạo VN sẽ có thương hiệu. Quy trình canh tác đảm bảo an toàn, ND an tâm vì SX có đầu ra (giống như gạo Nhật của Cty Kitoku Sinryo (Nhật Bản) có thị trường ổn định). Đó là một bài học về giá thành SX thấp, nhưng năng suất đạt 6 tấn, giá bán ra trên 1 USD/tấn, lãi khoảng 8 cent/kg.
Xin cám ơn GS!
(Theo Báo NNVN)

Thứ Ba, 21 tháng 2, 2012

Lúa gạo thế giới 2011-2012

LUAGAO - Năm 2011, tình trạng sản xuất lương thực thế giới, chủ yếu là ngũ cốc như lúa mì, lúa gạo và bắp được cũng cố, đạt đến 2.325 triệu tấn hay tăng 3.7% so với 2010 dù khí hậu bất thường xảy ra tại một số nước.
Riêng lúa gạo là loại thực phẩm quan trọng cho hơn 3,5 tỷ người hay trên 50% dân số thế giới. Năm qua, ngành lúa gạo có hai chuyển biến lớn: chính phủ Thái Lan tăng giá gạo nội địa để giúp nông dân có đời sống tốt hơn và Ấn Độ bãi bỏ lệnh cấm xuất khẩu loại gạo thường dùng (không thơm Basmati) ảnh hưởng lớn đến thị trường gạo thế giới. Hàng năm tình trạng sản xuất và thương mại lúa gạo thế giới bị chi phối bởi các yếu tố chính sau đây:
1. Lúa rất quan trọng với an ninh lương thực và liên hệ với tình trạng nghèo khổ trên thế giới. Cho nên, nhiều nước đang phát triển đã thực hiện chính sách tự túc lúa gạo, với nhiều trợ cấp cho cả ngành sản xuất và thị trường tiêu thụ, nhưng chưa sánh kịp trợ cấp to lớn như các nước công nghiệp. Hai nước Malaysia và Trung Quốc, trái lại có chính sách tự túc giới hạn, khôn ngoan, theo thứ tự ở mức 65% và 90% nhu cầu nội địa.
2. Tuy khối lượng sản xuất lúa gạo thế giới rất lớn, chỉ sau lúa mì, nhưng số lượng giao dịch quốc tế tương đối nhỏ, chỉ khoảng 30-34 triệu tấn gạo hay 6-7% mỗi năm, do chính sách tự túc của nhiều nước. Vì vậy, thị trường thế giới dễ bị dao động khi có những biến chuyển nhỏ trong sản xuất.
3. Một yếu tố quan trọng khác gây ảnh hưởng rõ rệt đến sản xuất lúa gạo thế giới là khí hậu bất định mỗi năm. Hiện nay, diện tích trồng lúa tưới tiêu chiếm gần 60% tổng diện tích trồng lúa, nhưng sản xuất đạt hơn 75% tổng sản lượng gạo thế giới. Cho nên, ngành trồng lúa còn phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng thời tiết, nhất là các loại lúa trồng nhờ nước trời đang chiếm 40% tổng diện tích. Theo thống kê về tình hình sản xuất lúa trong 50 năm qua, cứ bình quân 6-7 năm có một lần khí hậu bất lợi cho canh tác lúa thế giới và gây xáo trộn thị trường.
4. Sản xuất lúa châu Á phản ánh đậm nét tình trạng lúa gạo thế giới và đóng vai trò quyết định tối hậu đến giá cả và giao dịch quốc tế, vì châu lục này hàng năm sản xuất và đồng thời tiêu thụ hơn 90% lúa gạo toàn cầu. Ngoài ra, nhu cầu tiêu thụ và các chính sách nhập khẩu, tồn trữ lúa gạo của các châu lục khác cũng ảnh hưởng đến thị trường không nhỏ.
5. Các cuộc khủng hoảng chính trị, kinh tế, tài chính, năng lượng như chưa từng thấy trong những thập niên qua, gần đây nhất là năm 2008, đã gây ra khủng hoảng lương thực thế giới làm tăng thêm 100.000 người thiếu đói và đưa tổng số người bị đói lên 1 tỷ người.
Sản xuất
Mặc dù bị ảnh hưởng thiên tai ở nhiều nơi châu Á như Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và bão ở Philippines từ tháng 8 năm ngoái nhưng sản lượng lúa toàn cầu đã vượt lên mức kỷ lục nhờ vụ mùa phát triển trong điều kiện khí hậu thuận hòa sau đó. Cơ quan FAO ở Roma đã đánh giá năm 2011, sản lượng lúa đạt đến 721 triệu tấn hay 481 triệu tấn gạo, tăng 3% hay 24 triệu tấn so với 2010.
Phần lớn sự gia tăng này do sản xuất thuận lợi tại Ấn Độ, Ai Cập, Bangladesh, Trung Quốc và Việt Nam vượt trội hơn số lượng thất thu từ Indonesia, Madagascar, Pakistan, Philippines và Thái Lan. Sự gia tăng còn do diện tích trồng lúa thế giới tăng lên 164,6 triệu ha hay tăng 2,2% và năng suất bình quân cũng tăng nhẹ lên mức 4,38 tấn/ha tức tăng 0,8% trong hơn 1 năm vừa qua.
Châu Á sản xuất 651 triệu tấn lúa (435 triệu tấn gạo) hay tăng 2,9% so với 2010 dù có nhiều trận bão lớn xảy ra ở Philippines và lũ lụt nặng nề kéo dài ở Campuchia, Lào, Myanmar và Thái Lan. Sự gia tăng lớn này chủ lực do Ấn Độ và Trung Quốc, với sự tham gia ở mức độ thấp hơn từ Bangladesh, Hàn Quốc, Nhật Bản, Pakistan và Việt Nam. Riêng Việt Nam, chính phủ tính toán sản xuất lúa đạt đến 42 triệu tấn lúa hay tăng 1 triệu tấn so với 2010, do diện tích trồng lúa thêm 200.000 ha đưa tổng số lên 7,7 triệu ha, năng suất đạt đến 5,5 tấn/ha.
Năm 2011, Việt Nam xuất khẩu 7,35 triệu tấn gạo mang về khoảng 3,5 tỷ Mỹ kim. Ấn Độ thu hoạch 154,5 triệu tấn lúa hay tăng 11 triệu tấn so với 2010 nhờ mùa mưa thuận lợi, ngoại trừ vài tỉnh ở Tây Nam có hạn hán. Trung Quốc sản xuất đến 203 tấn lúa hay tăng 3%, đạt được mục tiêu tự túc trong suốt thập niên qua. Thái Lan bị ngập lụt nặng ở cánh đồng trung tâm làm thiệt hại 1,6 triệu ha tương đương 4 triệu tấn lúa, sản xuất 2011 khoảng 32,2 triệu tấn lúa, thấp hơn 7% so với 2010 (34,5 triệu tấn). Hậu quả này làm ảnh hưởng mạnh đến xuất khẩu gạo 2012 của Thái Lan.
Châu Phi sản xuất lúa khoảng 26 triệu tấn (17 triệu tấn gạo), cao hơn 3% 2010 do mưa bất thường, do được mùa ở Ai Cập, một nước sản xuất lúa tưới tiêu lớn trong vùng và tăng sản xuất ở Benin, Ghana, Mali, Nigeria, Sierra Leone thuộc Tây Phi Châu. Trong khi Đông Phi Châu như Tazania, Zambia, Madagascar và Nam Phi Châu có tình trạng ngược lại do mưa ít, ngoại trừ Malawi và Mozambique nhờ đầu tư nhiều cho hệ thống tưới tiêu. Ba nước sản xuất lúa gạo nhiều nhất ở châu Phi là Ai Cập. Nigeria và Madagascar, chiếm đến 55% tổng sản lượng lúa. Sản xuất lúa ở Ai Cập tăng từ 5,2 triệu tấn trong 2010 lên 5,8 triệu tấn trong 2011 và Nigeria từ 4,2 triệu lên 4,3 triệu; trong khi Madagascar giảm từ 4,8 xuống 4,3 triệu tấn trong cùng thời kỳ.
Nam Mỹ và Caribbean phục hồi sản xuất lúa đạt đến 29,6 triệu tấn hay 19,8 triệu tấn gạo so với sút giảm 12% so với năm trước đó, do được mùa và giá gạo cao từ các nước Argentina, Brazil, Columbia, Guyana, Paraguay, Uruguay và Venezuela. Trong khi đó Mexico và Ecuador bị khô hạn, Honduras, Nicaragua và El Salvador bị ngập lụt. Brazil là nước sản xuất lúa gạo lớn nhất châu Mỹ (chủ yếu là lúa rẫy) đạt đến 13,6 triệu tấn so với 11,7 triệu tấn 2010 nhờ khí hậu tốt. Sản xuất lúa của nước này chiếm đến 45% tổng sản lượng toàn vùng.
Hoa Kỳ sản xuất lúa gần 8,5 triệu tấn, giảm 21% so với 2010 (11 triệu tấn) do khí hậu không thuận lợi và diện tích trồng thu hẹp. Đó là mức sản xuất thấp nhất kể từ 1998. Sản xuất lúa Úc Châu tăng đến 800.000 tấn, gấp 4 lần so với 2010 (0,2 triệu tấn) nhờ cung cấp đầy đủ nước tưới. Sản xuất lúa ở châu Âu tăng thêm 0,2 triệu tấn, đạt đến 4,6 triệu tấn nhờ cải thiện năng suất, đặc biệt ở nước Ý và Liên bang Nga được mùa, nhưng giảm thu hoạch ở Pháp và Tây Ban Nha.
Thương mại
Giao dịch lúa gạo quốc tế 2011 đã tăng đến 34,3 triệu tấn hay 9% hơn 2010, phần lớn do nhu cầu nhập khẩu gạo của một số nước châu Á như Bangladesh, Indonesia, Iran, Trung Quốc và châu Phi như Coote d’Ivoire, Madagascar, Mali, Nigeria, Senegal. Nguồn gạo xuất khẩu tăng chủ yếu do Ấn Độ sau khi nước này bãi bỏ lệnh cấm xuất khẩu gạo không phải Basmati vào tháng 9 vừa qua. Ngoài ra, còn các nước khác cung cấp số lượng gạo xuất khẩu khá lớn như Argentina, Australia, Brazil, Myanmar, Uruguay và Việt Nam trong khi Ai Cập, Hoa Kỳ, Pakistan và Trung Quốc giảm bớt xuất khẩu.
Viễn ảnh giao dịch lúa gạo thế giới 2012 có thể giảm đôi chút, khoảng 500.000 tấn gạo. Theo dự báo của FAO, giao dịch này chỉ đạt 33,8 triệu tấn gạo do nhu cầu châu Á giảm bớt chút ít. Về mặt xuất khẩu, Thái Lan giảm xuất khẩu từ 10,3 triệu tấn gạo 2011 xuống khoảng 8,2 triệu tấn 2012, do tình hình ngập lụt nặng và thay đổi chính sách lúa gạo. Ấn Độ sẽ bù đắp giảm sút này của Thái Lan. Theo dự đoán, các nước Pakistan, Trung Quốc, Úc Châu và Việt Nam sẽ tăng xuất khẩu gạo vào năm tới. Còn Argentina, Brazil, Hoa Kỳ, Myanmar và Uruguay sẽ giới hạn xuất khẩu.
Sử dụng lúa gạo thế giới 2011-2012 đạt đến 470 triệu tấn gạo, tăng 9,7 triệu hay 2% hơn năm vừa qua. Số lượng tiêu dùng này gồm có 397 triệu tấn dành cho thức ăn, 12 triệu tấn cho nuôi gia súc, và sử dụng khác như làm giống, chế biến và thất thoát sau thu hoạch khoảng 61 triệu tấn hay 3%. Khẩu phần thực phẩm trung bình tăng từ 56,5 kg/người/năm trong 2010 lên 56,8 kg 2011. Riêng tại các nước phát triển khẩu phần tăng thêm 0,4 kg lên mức 67,8 kg và tại các nước phát triển giảm 1% còn 12,2 kg mỗi năm. Gạo tồn trữ dự đoán 145 triệu tấn trong 2011, tăng 10,5 triệu tấn hay 8% so với 2010, số lượng này có thể cung cấp 30% nhu cầu thế giới. FAO ước đoán gạo tồn trữ tăng thêm 4 triệu tấn đến 149 triệu tấn trong 2012.
Giá gạo thế giới đạt đỉnh cao 570 Mỹ kim/tấn (gạo Thái 100% B) vào tháng 12/2010 và tháng 1/2011, bắt đầu giảm dần từ tháng 2 đến tháng 5/2011 (500 Mỹ kim/tấn) do thu hoạch mùa lúa đông xuân ở châu Á. Từ tháng 6 đến tháng 11/2011, giá gạo tăng cao trở lại (630 Mỹ kim/tấn) do lũ lụt tại một số nước châu Á, và chính phủ Thái Lan đưa ra chính sách tăng giá lúa gạo hỗ trợ nông dân kể từ 07/10/2011, với 502 Mỹ kim cho mỗi tấn gạo trắng Premium và 667 Mỹ kim cho gạo thơm, tức tăng 66 và 33% so với thời điểm bấy giờ, theo thứ tự. Vào tháng 9/2011, giá gạo Việt Nam và Indonesia tăng 32% và 12% so với tháng trước. Vào cuối tháng 11/2011, giá gạo Việt Nam 5% tấm là 560 Mỹ kim/tấn và 25% tấm là 510 Mỹ kim/tấn.
Ấn Độ đang trở lại thị trường quốc tế với sức cạnh tranh cao do giá gạo thấp. Nước này còn mở rộng thị trường đến một số nước châu Phi. Gạo Ấn Độ 5% tấm chỉ còn 394 Mỹ kim/tấn tháng 11 so với 412 Mỹ kim/tấn tháng 10. Pakistan xuất khẩu ít hơn do thất mùa, giá gạo 25% tấm là 391 Mỹ kim/tấn trong tháng 11 so với 420 Mỹ kim tháng 10. Trung Quốc vẫn giữ giá gạo nội địa không thay đổi từ tháng 3 đến tháng 11, nhưng cao hơn cùng thời điểm năm trước đó 14%. Tại các nước Bangladesh, Bhutan, Campuchia, Lào, Nepal và Philippines giá gạo nội địa không thay đổi từ tháng 9/2010 đến nay.
Năm 2011, Brazil xuất khẩu kỷ lục đến 1 triệu tấn gạo so với 0,4 triệu tấn 2010. Uruguay tập trung xuất khẩu gạo vào thị trường Trung Đông. Hoa Kỳ xuất khẩu giảm với 3,4 triệu tấn 2011 so với 3,9 triệu tấn 2010. Giá gạo xuất khẩu cũng theo khuynh hướng thế giới giảm 5%. Gạo hạt dài 2/4 còn 593 Mỹ kim/tấn tháng 11 so với 625 Mỹ kim/tấn tháng 10. Năm 2012, giá gạo thế giới sẽ giảm do số lượng xuất khẩu dư thừa và số lượng gạo giao dịch nhỏ hơn so với năm trước. Đây là hậu quả tất nhiên của sản xuất và tồn trữ tăng gia liên tục trong thập niên vừa qua.
Tóm lại, theo dự báo của FAO, viễn cảnh sản xuất lúa gạo thế giới 2012 khá sáng sủa, có thể tăng khoảng 2,4% đạt đến 738 triệu tấn lúa; nhưng giao dịch gạo thế giới sẽ giảm bớt 1% ở mức 8 triệu tấn gạo, do Thái Lan giảm số lượng xuất khẩu 20% và một số nước khác cũng có khuynh hướng này. Sự thay đổi chính sách lúa gạo của Thái Lan và Ấn Độ sẽ làm cho thị trường lúa gạo thế giới năm tới không được ổn định.
Với chút ít lạc quan, các chuyên gia cho biết giá các nhu yếu phẩm sẽ không thay đổi nhiều và dưới mức cao nhất của 2011. Việc Ấn Độ trở lại trong vai trò nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới với giá gạo thấp, kết hợp cùng giá gạo xuất khẩu thấp của Pakistan và Myanmar sẽ giữ giá gạo thế giới thấp hơn trong năm tới. Riêng ngành xuất khẩu lúa gạo Việt Nam sẽ tiến đến gần hơn ngôi vị quốc tế hạng nhất và hàng năm mang về cho đất nước hàng tỷ Mỹ kim, nhưng nông dân trồng lúa không được hưởng lợi tương xứng với vai trò hiện tại của mình.
TS. Trần Văn Đạt - nguyên Chánh chuyên gia FAO(Nguồn: báo NNVN)

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012

11 BƯỚC CANH TÁC LÚA BỀN VỮNG THEO QUY TRÌNH HỢP TRÍ

Với phương châm “Vì Nông nghiệp bền vững, Vì sức khỏe cộng đồng” và với quan niệm lấy Tâm, Đức, Kiến thức làm nền tảng. Công ty Hợp Trí luôn định hướng nghiên cứu và phát triển những sản phẩm mang lại hiệu quả cao, an toàn và tiện sử dụng cho nông dân, cho khách hàng. Đặc biệt là những sản phẩm thân thiện với môi trường nhằm góp phần bảo tồn hệ sinh thái bền vững.
LUAGAO xin gởi tới quí bạn đọc Quy trình canh tác lúa bền vững. Đây là mô hình đã được Công ty Hợp Trí triển khai và gây được tiếng vang lớn tại Đồng bằng SCL. Quy trình phân ra 11 bước để thực hiện trong canh tác lúa, giúp hạn chế sâu bệnh hại, tiết kiệm chi phí tăng năng suất và chất lượng.
Các bạn xem và download tại link sau:

Thứ Tư, 25 tháng 1, 2012

Vị thế mới của gạo Việt

LUAGAO - Theo dự báo, năm 2012 Việt Nam có thể sẽ xuất khẩu được 7,3 triệu tấn gạo - kỷ lục từ trước đến nay. Có được con số này, lúa gạo Việt đã trải qua nhiều khó khăn, giông bão, nhiều câu chuyện chưa từng được kể.


Một thời gian khó
Năm 2011 này, lần đầu tiên Việt Nam đạt vượt qua ngưỡng 40 triệu tấn lúa với tổng sản lượng cả nước đạt tới hơn 41,5 triệu tấn với năng suất bình quân đã vượt mốc 6,1 tấn/ha. Nhưng để đạt được kỳ tích như ngày hôm nay, hạt gạo Việt Nam đã có thời bị thiếu hụt trầm trọng, hàng năm phải đi nhập khẩu một lượng lớn để bù đắp cho sự thiếu đói.
Vị thế mới của gạo Việt, Thị trường - Tiêu dùng, xuat khau gao, thi truong gao, lua gao, bao, tin hya, tin hot, tin tuc
Nhớ lại những thời kỳ đó, ông Nguyễn Công Tạn -nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ nói: “Năm 1980, sản lượng lúa nước ta mới đạt 11,65 triệu tấn, sau khi thực hiện Chỉ thị 100 đến năm 1988 vươn lên được 17 triệu tấn, nhưng vẫn không thể đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong nước và đây chính là thời điểm cao độ của khủng hoảng, lúc đấy đất nước ta có hàng triệu người thiếu ăn và phải nhập hàng triệu tấn gạo và bột mỳ”.
Các cột mốc trong 22 năm xuất khẩu gạo của Việt Nam: Nếu năm 1989, Việt Nam mới xuất khẩu được 1,37 triệu tấn gạo, thì 6 năm sau đó đến năm 1995 đã đạt số lượng 2,05 triệu tấn. Ngay sau đó 1 năm (1996) đã tăng vọt lên 3,06 triệu tấn, đến năm 1999, xuất khẩu gạo đạt cột mốc mới với 4,56 triệu tấn. Nhưng kể từ sau năm 2000, số lượng xuất khẩu lại bị tụt xuống ở mốc 3,35 triệu tấn và đến năm 2005 mới thiết lập được mốc mới là 5,2 triệu tấn. Tới năm 2009 đạt cột mốc 6 triệu tấn, năm 2010 đạt 6,8 triệu tấn và năm 2011 đạt 7,2 triệu tấn.
“Năm 1987, khi tôi làm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, nước ta vẫn đói, chúng ta thiếu tới 1 triệu tấn gạo, nhưng chỉ nhập được có 440.000 tấn. Lúc đó, tôi đã kiến nghị với đồng chí Phạm Hùng, khi đó là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phải nhập thêm, nhưng đồng chí nói, ngoại tệ và vàng trong nước đã hết rồi, nên có đề nghị nhập cũng chịu” - ông Tạn nhớ lại.
Thế rồi, luồng gió mới từ Nghị quyết 10 đã đến và giải phóng cho toàn bộ nền nông nghiệp nước ta, biến một nước từ chỗ phải lệ thuộc vào lương thực nhập khẩu trở thành một nước xuất khẩu gạo liên tục trong 22 năm vừa qua.
Ông Tạn tâm sự: “Ngay năm 1989, sản lượng lúa cả nước đã đạt 18,99 triệu tấn, đến 1990 đạt 19,22 triệu tấn, rồi 19,43 triệu tấn vào năm 1991 và cứ thế suốt từ 1988 đến nay, sản lượng lúa chỉ có tăng và lên. Đặc biệt, cũng từ 1989, chúng ta đã xuất khẩu được 1,37 triệu tấn gạo, từ bấy đến nay chỉ toàn xuất khẩu tới ngưỡng 7,2 triệu tấn như năm nay”. Theo ông Tạn, để có được thành công đó là do Đảng, Nhà nước đã thay đổi chính sách về nông nghiệp, nhất là chúng ta đã luật hóa được toàn bộ tư liệu sản xuất đối với nông dân bằng Luật Đất đai năm 1993.
Có lúc đi xin... xuất khẩu
Hiện nay, hạt gạo Việt Nam đã vươn đi gần như khắp thế giới. Nhưng để có được thành công và những thuận lợi đó, những người làm công tác xuất khẩu gạo đã trải qua những thời kỳ vô cùng gian khó.
Là người điều hành xuất khẩu gạo ngay từ những ngày đầu, hạt gạo Việt Nam vươn ra khỏi bản đồ hình chữ S, ông Nguyễn Đăng Chi - nguyên Vụ trưởng Vụ Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) nhớ lại: “Khi chúng ta mới tham gia xuất khẩu gạo, trên thị trường thế giới cung vẫn còn lớn hơn cầu, nước xuất nhiều hơn nước nhập, nên dạo đó, có những hợp đồng khi tổ chức đấu thầu, chúng tôi đã phải đi “lobby” cả đến cấp Chính phủ nước đó. Thậm chí, có thời điểm xuất khẩu khó khăn quá, chúng tôi đã phải thảo cả thư cho Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn ký gửi cho Tổng thống Philippines chiếu cố nhập khẩu gạo cho chúng ta”.
Vị thế mới của gạo Việt, Thị trường - Tiêu dùng, xuat khau gao, thi truong gao, lua gao, bao, tin hya, tin hot, tin tuc
Năm 2011, lần đầu tiên Việt Nam đã xuất khẩu được 7 triệu tấn gạo
Đánh giá của các chuyên gia cho thấy, triển vọng xuất khẩu gạo năm 2012 của Việt Nam nhìn chung vẫn khá sáng sủa do yếu tố lũ lụt ở Thái Lan, cộng với chính sách quy định về thu mua gạo ở giá sàn khá cao của nước này, tạo cơ hội cho Việt Nam có thể san bằng, thậm chí vượt Thái Lan về số lượng xuất khẩu gạo ở vị trí “quán quân”.
Theo ông Chi: “Trong trước mắt và có lẽ cả lâu dài, xuất khẩu gạo nhìn chung thuận lợi nhiều hơn do chúng ta có được cơ hội do đất đai ngày càng thu hẹp, dân số thế giới lại tăng, nguy cơ đói của thế giới vẫn còn. Cộng với kinh nghiệm nhiều năm trong xuất khẩu với nhiều thị trường, bạn hàng lâu năm, chúng ta sẽ vẫn rất thuận lợi về xuất khẩu gạo. Tuy nhiên, vai trò điều hành, nhất là của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) phải được xây dựng lại mạnh hơn, đặc biệt giữa các doanh nghiệp phải đoàn kết, bảo được nhau. Như thế, xuất khẩu mới đem lại hiệu quả”.
“Vương miện” phải dành cho nông dân
Có một thực tế hiện nay, mặc dù riêng ngành lúa gạo xuất khẩu đã đem lại giá trị tới 3,5 tỷ USD/năm về cho nước ta, nhưng thực tế, từ sau năm 1975 đến nay những người trồng lúa vẫn là những người nghèo nhất.
TS Lê Hưng Quốc - nguyên Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NNPTNT) cho rằng: “Thực tế, cái vị trí số 1 hay số 2 chẳng có gì vinh dự, mà điều quan trọng là người nông dân được hưởng bao nhiêu phần trăm lợi nhuận trong những con số xuất khẩu đó. Cho nên, theo tôi chiếc “vương miện” số 1 đó phải được dành cho những người nông dân trực tiếp làm ra từng hạt gạo”. Cũng theo ông Quốc, trên thế giới đã có nhiều nước, thậm chí người ta còn điều chỉnh vị trí xuất khẩu của mình từ số 1 xuống số 2, từ số 2 xuống số 3… để đem lại hiệu quả cho người sản xuất.
Cùng chung tư tưởng với ông Quốc, ông Nguyễn Đăng Chi nhận định, vươn lên số 1, số 2 về số lượng không khó nếu các nước thi nhau xuất khẩu giá thấp. Ông nói: “Chúng ta cần tập trung vào nâng cao hiệu quả xuất khẩu, đảm bảo cho nông dân có lợi trong từng cân lúa bán ra với mức lãi 30% thậm chí có thể 50% và cao hơn nữa”.
Bộ trưởng Bộ NNPTNT Cao Đức Phát: Cây lúa là thế mạnh của nước ta
Nói về định hướng cho ngành sản xuất lúa gạo, Bộ trưởng Bộ NNPTNT Cao Đức Phát cho biết: “Trên thực tế, một mặt chúng ta phát triển sản xuất lúa gạo để đảm bảo nhu cầu trong nước, nhưng mặt khác chính cây lúa là lợi thế của nước Việt Nam. Cây lúa đem lại lợi ích cho nước Việt Nam và cho những người nông dân trồng lúa. Không dễ gì tìm được cây khác có hiệu quả hơn trên những vùng đất trồng lúa truyền thống của chúng ta. Đây là sự sàng lọc của lịch sử”.
Theo ông Phát, ĐBSCL của nước ta là một trong những vùng trồng lúa nước tốt nhất trên thế giới và không phải ngẫu nhiên mà nước ta trở thành nước xuất khẩu lúa gạo lớn thứ 2 tuy với diện tích đất rất nhỏ hẹp. Vì cây lúa có lợi thế và nhìn lại quá trình hơn 20 năm vừa qua khi chúng ta đổi mới, có thể thấy nền nông nghiệp của chúng ta chỉ có thể phát triển được khi chúng ta tập trung vào phát huy những gì là thế mạnh của chúng ta.
Cây lúa là một trong những thế mạnh của nền nông nghiệp và của cả nước. Do đó, chúng ta nên tiếp tục phát huy và nên gìn giữ mảnh đất màu mỡ ấy cho muôn đời sau. Không phải hôm nay chúng ta xuất khẩu nhiều gạo là để làm an ninh lương thực cho thế giới, mà chúng ta làm ra hạt gạo trước hết là vì chúng ta, vì đất nước chúng ta”.
Ngọc Lê (ghi)
Theo: 24h

Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2012

GIÁ TRỊ MANG LẠI TỪ GẠO THAN

LUAGAO – Giới thiệu về gạo than, thông tin tổng hợp từ nhiều nguồn.


Tiến sĩ Lê Hữu Hải, người âm thầm nghiên cứu gạo than từ năm 2005 đến đã phát hiện hàm lượng anthocyanin của gạo than Cai Lậy, Tiền Giang lên tới 600 mg/kg.
“Anthocyanin có trong gạo than tới 60,4 mg/100g, cao hơn 94,47% so với gạo trắng. Đây là hợp chất có nhiều hoạt tính sinh học quí như: khả năng chống oxy hóa cao nên được sử dụng để chống lão hóa; chống oxy hóa các sản phẩm thực phẩm; hạn chế sự suy giảm sức đề kháng; có tác dụng làm bền thành mạch, chống viêm, hạn chế sự phát triển của các tế bào ung thư”, TS Hải giải thích.
Một nghiên cứu khác của phòng thí nghiệm chuyên sâu thuộc trường Đại học Cần Thơ và Trung tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm TP.HCM khẳng định: 1 kilogam gạo than chứa đến 26,4 mg chất sắt, cao hơn 450% so với gạo trắng (4,8 mg/kg), chỉ thấp hơn thịt bò 13,6% (30 mg/kg).
Vi chất sắt trong gạo than cần thiết trong việc duy trì sự khoẻ mạnh của hệ miễn dịch, các cơ và điều chỉnh sự phát triển của các tế bào. Chất sắt được dự trữ trong hemoglobin và myoglobin, 2 tế bào protein máu có nhiệm vụ vận chuyển oxy đến các mô và cơ trong cơ thể. Các nhà khoa học còn phát hiện quan hệ giữa kẽm và tuyến tiền liệt rất mật thiết.
Ngoài ra, trong gạo than còn chứa nhiều khoáng chất khác như amylose, canxi, lysine… có hàm lượng cao hơn gạo trắng bình thường.
Gạo than chứa Anthocyanin, xay lứt ngâm trong 20 giờ, nấu chín… người Nhật ăn theo phương pháp thực dưỡng còn gọi đó là cơm gạo mầm, tác dụng chống các tia phóng xạ.
Từ nguồn giống của Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), chạy điện di protein SDS – PAGE tại bộ môn Di truyền chọn giống, trường Đại học Cần Thơ, trồng khảo nghiệm nhiều vụ ngoài đồng ruộng tại Cai Lậy, tiến sĩ Hải đã tuyển chọn được 2 dòng lúa than thích nghi tốt với điều kiện sản xuất thâm canh, thời gian sinh trưởng chỉ 75 – 80 ngày, không cảm ứng quang kỳ như các giống lúa mùa nên có thể thâm canh 3 vụ/năm.

Tiến sĩ Võ Công Thành, bộ môn Di truyền chọn giống, cho biết giống lúa than “Huyền Ngọc”, được chọn tạo từ tổ hợp lai từ loại lúa Khẩu Lệch (Huế) và giống BN, kết quả kiểm nghiệm của phòng thí nghiệm chuyên sâu trường đại học Cần Thơ cho thấy hàm lượng Fe tới 54,9 mg/kg và anthocyanin lên đến 1432 mg/kg, cao hơn lúa than Cai Lậy. Tiến sĩ Thành nói rằng ông cố gắng làm cho giống lúa có tính kháng sâu bệnh, chịu hạn hoặc mặn trên 5‰.
Tại Sóc Trăng, kĩ sư Hồ Quang Cua, âm thầm nghiên cứu tổ hợp lai, cũng bất ngờ trước những kết quả vi chất dinh dưỡng. Tuy nhiên, theo ông, cần tiếp tục nghiên cứu. Thầm lặng và ngẫu nhiên, 3 điểm nghiên cứu lúa than vô tình chạy vào đường đua.
Tiến sĩ Hải cho biết ông đã làm hồ sơ đăng ký “Gạo Lá cẩm Cai Lậy” và HTX Mỹ Thành, Cai Lậy, Tiền Giang đã trồng 39 ha lúa than theo tiêu chuẩn GlobalGAP trong vụ hè thu sớm 2011.
Công ty TNHH ADC đặt hàng toàn bộ lúa than với giá tương ứng 1 kg “lúa cẩm Cai Lậy“ = 1,6kg lúa hột dài. Công ty này sẽ giúp HTX mở rộng diện tích và kết hợp với ngành dược phẩm tạo ra cuộc đời thứ hai của gạo than với dòng sản phẩm mới có giá trị dinh dưỡng cao, dùng như thực phẩm chức năng.
Với năng suất bình quân 5-6 tấn/ha, các nhóm tác nhân: chế biến, đóng gói, kinh doanh siêu thị đang tìm cách săn đón gạo than. Một số công ty xuất khẩu cũng muốn tham gia chuỗi giá trị bằng cách đẩy giá lên cao để mua hàng mà không cần đầu tư vùng nguyên liệu. Nhưng những cơ hội thương lượng với người sản xuất cá thể ở Tiền Giang, Sóc Trăng rất mong manh vì nguồn giống vốn rất giới hạn và việc kiểm soát dự án tại gốc hết sức chặt chẽ.

Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2012

Vui Tết không quên ruộng đồng: Đề phòng dịch hại lúa ĐX

LUAGAO - Cho đến tuần đầu tháng 1/2012, ĐBSCL vẫn còn một vài địa phương chưa gieo sạ xong vụ lúa ĐX. Phần lớn diện tích đất lúa chậm trễ gieo sạ thuộc vùng chân ruộng sâu, hạ tầng thủy lợi không đảm bảo chủ động bơm tát.

Theo dự đoán ban đầu của Sở NN-PTNT các tỉnh trong vùng, ảnh hưởng lũ năm 2011 khá lớn, nước rút chậm và tác động triều cường biển Đông nên lúa vụ ĐX xuống giống trễ hơn lịch thời vụ. Tại Cần Thơ, đến cuối tháng 12/2011, nông dân mới gieo sạ khoảng 88.000 ha. Đợt gieo sạ sớm tại vùng thủy lợi chủ động nguồn nước, đến nay lúa đã gần 2 tháng tuổi. Ước có khoảng 60.000 ha lúa đang trong giai đoạn đẻ nhánh và khoảng 2.000 ha làm đòng.

Để đề phòng dịch bệnh hại lúa xảy ra ngày giáp tết, Sở NN-PTNT Cần Thơ triển khai phân công cán bộ nông nghiệp, trạm BVTV các quận huyện trực, theo dõi tình hình sâu bệnh và khuyến cáo nông dân thường xuyên thăm đồng.

TS Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL cho biết: Theo kế hoạch vụ lúa ĐX, ĐBSCL trồng 1.550.000 ha, đến ngày 10/1/2012 tiến độ xuống giống đạt hơn 95%, còn hơn 60.000 ha vẫn tiếp tục xuống giống. Các địa phương khuyến cáo lịch xuống giống lúa ĐX sớm bắt đầu từ đầu tháng 10/2011, vào tháng 11 tập trung gieo sạ cao điểm đồng loạt và đến đầu tháng 12 kết thúc.

Tuy nhiên vụ lúa ĐX năm nay nước lũ rút chậm, nhiều vùng nội đồng nước còn ngập sâu, đến tháng 11/2011 tiến độ xuống giống chỉ đạt 50%, phần diện tích còn lại gieo sạ trong tháng 12/2011 và dự tính trễ lắm đến đầu tháng 1/2012 xuống giống dứt điểm.

Việc xuống giống chậm trễ khiến ngành nông nghiệp các tỉnh lo lắng. Nông dân canh tác ở những vùng lúa xuống giống chậm có thể phải đối phó với hạn, mặn xâm nhập giai đoạn cuối vụ; ảnh hưởng tới bố trí lịch thời vụ cho vụ HT, lúa vụ 3 trong năm.

Thế nhưng mùa lũ cũng đem lại lợi ích cho vùng đất lúa hai bên sông Tiền, sông Hậu. Lũ mang phù sa màu mỡ tưới tắm đồng ruộng nên lúa phát triển tốt. Ngành nông nghiệp một số địa phương khuyến cáo nông dân sử dụng hạn chế các loại phân đạm, chỉ bón ở mức hợp lý và không nên lạm dụng chất kích thích, phân bón lá.

Thời tiết những ngày cận tết se lạnh, một số nơi có sương sớm buổi sáng dễ gây bệnh đạo ôn, cháy bìa lá. Hiện nay bệnh đạo ôn lá xuất hiện ở hầu hết các tỉnh trong vùng với diện tích nhiễm là 22.720 ha, giảm 14.752 ha so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ nhiễm bệnh phổ biến 5-10%, nơi cao trên 20%. Các tỉnh xuất hiện bệnh đạo ôn lá phổ biến như Vĩnh Long, Đồng Tháp, Hậu Giang, Sóc Trăng, Long An, Bạc Liêu…

Về bệnh đạo ôn cổ bông, có 8.653 ha nhiễm bệnh, giảm 748 ha so cùng kỳ năm trước, tỷ lệ nhiễm bệnh phổ biến 5-10%, nơi cao tỷ lệ trên 20%. Bệnh này xuất hiện ở các tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng, Long An, Hậu Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh…

Bệnh ốc bươu vàng tưởng chừng sau lũ lớn về sẽ sinh sôi nhiều, nhưng đến nay chỉ có 20.665 ha nhiễm ốc bươu vàng, giảm 14.257 ha so với cùng kỳ năm trước, với mật số phổ biến 2-4 con/m2, nơi cao trên 6 con/m2 (500 ha). Ốc bươu vàng xuất hiện và gây hại phổ biến ở các tỉnh Long An, Vĩnh Long, Kiên Giang, Bạc Liêu, Trà Vinh, Hậu Giang… Bên cạnh đó, bệnh sâu cuốn lá nhỏ có 11.650 ha bị nhiễm, giảm 7.082 so với cùng kỳ năm trước, mật số phổ biến từ 10-20 con/m2, nơi cao trên 40 con/m2 (100 ha).

Các tỉnh xuất hiện sâu cuốn lá nhỏ là Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu… Ngoài ra, một số đối tượng dich hại khác như bệnh bạc lá (9.126 ha), bệnh đốm vằn (6.458 ha), bệnh lem lép hạt (5.354 ha), chuột (4.660 ha), sâu đục thân (2.687 ha).

Ông Trần Ngọc Thể, Phó Chi cục trưởng Chi cục BVTV Hậu Giang cho biết: Tổng diện tích lúa ĐX bị nhiễm các loại dịch hại trên 8.700 ha, tăng 3.394 ha. Trong đó 4.325 ha nhiễm rầy nâu, 2.479 ha nhiễm bệnh đạo ôn, 1.169 ha bị sâu cuốn lá nhỏ gây hại và một số sâu bệnh khác.

Dự báo trước Tết Nguyên đán còn một đợt rầy nở, do đó bà con nông dân cần cảnh giác, đề phòng sâu rầy tấn công trên diện rộng. Mặt khác, thời tiết se lạnh là điều kiện thuận lợi cho bệnh đạo ôn phát triển mạnh và gây hại trà lúa ở giai đoạn đẻ nhánh. Vì vậy khi phát hiện trên đồng ruộng có vết chấm kim, bà con nên sử dụng các loại thuốc đặc trị đạo ôn để phòng trừ. Ngoài ra, trà lúa ĐX đã xuất hiện bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên giống lúa IR 50404 làm 43 ha nhiễm bệnh.

Ở Vĩnh Long rầy nâu đã xuất hiện nhưng mật độ còn trong vòng kiểm soát, trong khi đó bệnh đạo ôn đang có chiều hướng tăng. Hiện tại, đã có trên 1.044 ha lúa ở giai đoạn đẻ nhánh, đòng trỗ tại các huyện Long Hồ, Mang Thít, Trà Ôn và Vũng Liêm bi bệnh đạo ôn với tỷ lệ từ 6-14%. Bệnh đang tiếp tục phát sinh và gây hại trên trà lúa gieo trồng giống nhiễm, sạ dầy, bón thừa phân đạm.

Chi cục BVTV Vĩnh Long khuyến cáo nông dân bám sát đồng ruộng, phát hiện sớm bệnh để phòng trị kịp thời. Khi bệnh chớm xuất hiện có thể sử dụng một trong các loại thuốc đặc trị phun xịt theo “4 đúng”. Bệnh đạo ôn trên bông có thể phòng ngừa bằng cách xử lý thuốc đặc trị trước và sau trổ 7 ngày. Mặt khác cần bón phân cân đối giúp cây lúa khỏe, tăng cường bón phân kali cho lúa cứng cây, chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện bất lợi của thời tiết. Hạn chế tối đa việc phun các loại thuốc gốc lân hữu cơ phổ rộng hoặc thuốc có gốc cúc tổng hợp trừ sâu ăn lá, để bảo tồn thiên địch. Tùy theo sự xuất hiện và gây hại của từng đối tượng mà có biện pháp xử lý phù hợp. Các trạm BVTV phải theo dõi tình hình dịch bệnh và báo cáo trước 14 giờ hàng ngày về Chi cục, Sở NN- PTNT, Trung tâm BVTV phía Nam và Cục BVTV, Cục Trồng trọt.

Cục BVTV cảnh báo hiện nay trong toàn vùng ĐBSCL có 41.881 ha lúa bị nhiễm rầy, tăng 10.094 ha so với cùng kỳ năm trước, với mật độ trung bình 1.000-2.000 con/m2, nơi cao trên 3.000-6.000/m2 (khoảng 4.899 ha). Rầy nâu xuất hiện tập trung ở Bạc Liêu, Long An, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang, Vĩnh Long. Bệnh VL, LXL trong vùng cao điểm có 48,5 ha bị nhiễm, tăng 48,5 ha so với cùng kỳ, chủ yếu ở Hậu Giang, Đồng Tháp.

Tại Đồng Tháp, rầy nâu đã xuất hiện và gây hại 707,5 ha lúa giai đoạn đẻ nhánh, đòng trổ và hiện đã có 15 ha nhiễm nặng, mật độ 3.000- 5.000 con/m2; 114 ha nhiễn trung bình, mật độ 1.500 - 3.000 con/m2, còn lại nhiễm nhẹ. Ngoài ra, bệnh đạo ôn trên lá đã gây hại 3.425 ha lúa giai đoạn đẻ nhánh, làm đòng; trong đó có 10 ha nhiễm trung bình. Bệnh VL-LXL đã xuất hiện và gây hại rải rác. Ngành nông nghiệp tỉnh này khuyến cáo không phun thuốc trừ sâu cho lúa dưới 40 ngày sau sạ nhằm hạn chế ảnh hưởng thiên địch, tránh bộc phát dịch hại ở giai đoạn sau.

Ông Nguyễn Hữu An, Chi cục trưởng Chi cục BVTV An Giang cho biết: Trong những ngày nghỉ tết bệnh đạo ôn có khả năng phát triển và giống IR 50504 là dễ nhiễm nhất. Chính vì vậy đối với những trá lúa trên những cánh đồng xả lũ cần bón phân cân đối, tránh để dư đạm. Vụ ĐX 2011- 2012 xuống giống trễ hơn 15- 20 ngày so với cùng kỳ năm trước nên trà lúa làm đòng và trổ rơi vào những ngày tết.

Hiện nay, bên cạnh công tác phòng chống dịch hại, Sở NN-PTNT các tỉnh trong vùng cho biết đang chuẩn bị khắc phục hiện tượng thiếu nước, xâm nhập mặn cuối vụ ĐX 2011-2012 và đầu vụ HT sớm 2012 ở các huyện thuộc vùng ven biển; đồng thời khuyến cáo nông dân thăm đồng thường xuyên phát hiện và quản lý kịp thời các đối tượng rầy phấn trắng, nhện gié, muỗi gây lá hành, đạo ôn cổ bông. Với diễn biến thời tiết khá thuận lợi và hoạt động kiểm soát phòng chống dịch hại tốt, kỳ vọng vụ lúa ĐX tiếp tục thắng lợi lớn.

Ông Phạm Văn Quỳnh (ảnh), GĐ Sở NN-PTNT Cần Thơ: Không chủ quan, lơ là

Đến thời điểm này diện tích xuống giống vụ lúa ĐX ở Cần Thơ là 88.000 ha, đạt 100% kế hoạch. Mặc dù năm nay đất được tăng lượng phù sa do lũ lớn, giúp lúa phát triển nhanh, tốt nhưng cũng rất dễ tạo cơ hội cho sâu bệnh và rầy nâu tấn công trong những ngày tết.

Ngành nông nghiệp khuyến cáo bà con nông dân, trong những ngày vui xuân đón tết không nên lơ là thăm đồng ruộng để đảm bảo thắng lợi vụ lúa ĐX. Qua tết, Cần Thơ sẽ thu hoạch khoảng 1.000 ha lúa ĐX sớm. Hiện nay, giá lúa trên 5.000 đ/kg, đảm bảo nông dân có thể lãi trên 30%. Hy vọng đầu năm mới Nhâm Thìn giá lúa tăng cao hơn.

Ông Đoàn Chí Vững, PGĐ Sở NN-PTNT Đồng Tháp: Phòng ngừa là chính

Vụ lúa ĐX năm nay lịch xuống giống có trễ hơn so với các năm, nhưng đến thời điểm này tỉnh Đồng Tháp đã xuống giống hoàn tất (trên 207.500 ha). Đồng Tháp là tỉnh đầu nguồn nên bị thiệt hại nhiều do lũ nhưng bù lại lũ cũng giúp bà con nông dân giảm được chi phí phân bón rất lớn trong vụ ĐX này.

Năm nay lịch nghỉ tết khá dài so với mọi năm. Chúng tôi luôn khuyến cáo bà con nông dân không được chủ quan trong những ngày tết. Trong chăm sóc lúa phải giảm bón phân đạm. Nếu bón thừa đạm sẽ dẫn đến cây đổ ngã, năng suất kém. Thông thường hàng năm vụ lúa ĐX có đợt rầy nâu bùng phát, nếu không kịp thời phát hiện ngăn chặn sẽ dễ bị cháy rầy. Chính vì vậy biện pháp phòng ngừa được đặt lên hàng đầu.

Ông Nguyễn Văn Đồng (ảnh), GĐ Sở NN-PTNT Hậu Giang: Coi chừng rầy nâu

Đến thời điểm này nông dân Hậu Giang đã hoàn thành việc xuống giống 77.000 ha lúa ĐX theo kế hoạch. Tuy nhiên, hiện vẫn còn một số diện tích nhỏ lẻ, điều kiện khó khăn không thể xuống giống tập trung theo lịch thời vụ, nông dân đang tiếp tục gieo sạ, nhiều khả năng diện tích lúa ĐX 2011-2012 của tỉnh sẽ đạt 80.000 ha. Nhìn chung, trà lúa gieo sạ tâp trung trong tháng 11 và 12 hiện đang phát triển rất tốt, ít sâu bệnh, bà con đang tích cực chăm bón để ra giêng sẽ có vụ mùa bội thu.

Về tình hình dịch bệnh trên lúa, tới thời điểm này đã phát hiện 43 ha lúa bị bệnh VL-LXL, chủ yếu ở giống IR 50404, với mức độ gây hại từ 5-10%, tập trung ở TP Vị Thanh. Ngành đã hướng dẫn bà con cách xử lý để tránh lây lan. Toàn tỉnh hiện có trên 4.000 ha lúa bị nhiễm rầy với mật độ trung bình. Năm nay thời gian nghỉ tết dài nên ngành khuyến cáo bà con nông dân nên thường xuyên thăm đồng, để kịp thời phát hiện và phun thuốc phòng trừ. Riêng đối với các ngành chuyên môn như BVTV, Thú y… chúng tôi chỉ đạo phải phân công người túc trực 24/24 để nắm bắt tình hình dịch hại trên địa bàn, khuyến cáo, hướng dẫn bà con cách xử lý khi có dịch bệnh xảy ra.

Ông Trần Quang Giàu, Chi cục trưởng Chi cục BVTV Kiên Giang: Dịch bệnh rất dễ xảy ra

Theo dự báo của Trung tâm Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ, trong dịp Tết Nguyên đán sẽ có đợt thời tiết lạnh kéo dài, đây sẽ là cơ hội tốt để một số dịch bệnh trên lúa bùng phát mạnh như: đạo ôn lá, đạo ôn cổ bông. Trong khi đó, tết năm nay thời gian nghỉ dài, nông dân thường ít đi thăm đồng vào những ngày này nên nguy cơ dịch bệnh rất dễ xảy ra.

Vì vậy, ngành khuyến cáo nông dân phải thường xuyên thăm đồng để phát hiện sớm dịch bệnh và phòng trị kịp thời. Nếu ruộng lúa đã nhiễm hai loại bệnh nói trên thì phải ngưng ngay việc bón phân đạm, bơm nước trên ruộng đầy đủ theo chu kỳ sinh trưởng của cây lúa và chọn các loại thuốc đặc trị để phun xịt. Đối với các giống lúa nhiễm bệnh đạo ôn lá, đạo ôn cổ bông cần chủ động phun thuốc vào giai đoạn trước và sau khi trổ để phòng ngừa. Trong suốt thời gian nghỉ tết, Chi cục sẽ phân công cán bộ theo dõi, điều tra sâu bệnh trên đồng ruộng định kỳ để kịp thời xử lý.

Đ.T.Chánh - L.H.Vũ

Theo: Báo NNVN