Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013

Phận yểu của một "nữ hoàng"


LUAGAO - "Cơm tám ăn với chả chim/ Chồng đẹp, vợ đẹp những nhìn mà no". Tám xoan Hải Hậu (Nam Định), thứ thực phẩm cung tiến được ví von là nữ hoàng trong các loại gạo đặc sản Việt Nam, đang lâm vào cảnh yểu mệnh.

Hồi đế quốc Nhật bắt dân nhổ lúa trồng đay, dưới mũi lê, mũi súng của quân thù nông dân Hải Hậu vẫn lén cấy tám xoan, giữ lại giống lúa quý của tiên tổ. Hồi cả nước chạy theo cơn sốt năng suất để dẹp đi những cái bụng lép suốt ngày ùng ục sôi vì bo bo, mì hạt, nông dân Hải Hậu vẫn không bỏ giống lúa đặc sản nhưng năng suất được xếp vào hạng bét nhất: tám xoan của mình.

Những năm 70, 80 của thế kỷ trước, tám xoan phủ đều 35 xã thị trấn, chiếm đến phân nửa diện tích lúa. Đông về, heo may rét đài, rét ngọt cả Hải Hậu vương vấn trong mùi thơm của chim ngói, gạo tám.

Năm 2003, khi Hiệp hội Gạo tám xoan ra đời, Nam Định đã từng mơ một giấc mơ đẹp với một vùng lúa đặc sản rộng cả ngàn héc ta. Bà Hoàng Thị Nhẫn, Chủ tịch Hiệp hội Gạo tám xoan Hải Hậu, kể ngay năm 2004 đơn vị đã thu hút 439 hội viên tham gia với khoảng 200 mẫu ruộng ở các xã Hải Đường, Hải Anh, Hải Phong, Hải Toàn, Hải An dù giống này năng suất cực thấp chỉ đạt 1 tạ/sào.

Hiệu quả không có, người dân thu hẹp diện tích cấy lúa tám xoan

Được gặt non khi chín sáp tám phần cuối bông lúa còn có những hạt dạng sữa, được ngưng phơi khi tám phần khô, được xay xát tám phần khi hạt gạo còn hơi ngà xanh chứ không bóc sạch lớp cám dưỡng chất thành trắng nõn, chính vì thế “nữ hoàng” mới có tên lúa tám.

Năm Hiệp hội của bà Nhẫn tổ chức hội thử nếm để quảng bá gạo tám xoan, thức ăn thừa ê hề trong khi cơm hết nhẵn không còn một hột. Lắm người Thủ đô hẳn hoi, chẳng ngại ngần ngồi bệt xó bếp, rồn rột vét nồi, gói ghém mang về vừa đi vừa ăn nhỏn nhẻn đầy dè xẻn như một thứ trân quý để đời.

Đằng sau cái vương miện lấp lánh trên đầu “nữ hoàng” là cả một sự cầu kỳ đến kinh ngạc. Tám vốn họ nhà cảm quang ưa ánh nắng nên gặp lúc thời tiết ngày nắng, đêm sương cho năng suất rất khá (1,2-1,3 tạ/sào) nhưng khi nấu lên, miếng cơm trong mồm cứ khô roong như nấu bằng gạo thường.

Hồi năm 2004, khi Hiệp hội Gạo tám xoan mới còn trứng nước đã xảy ra vụ tí vỡ nợ vì thu mua thóc của dân với giá đặc sản rồi bán với giá gạo… Khang Dân bởi lý do năng suất cao này. Bà con cổ phần bằng thóc cứ ùn ùn kéo đến lấy lĩnh tiền, còn hội trưởng, hội phó mặt bạc đi còn hơn cả gạo năm bão vì lỗ một khoản tiền lớn.

Tám xoan ưa phân chuồng, phân xanh, ưa nước phù sa mát rượi từ sông Ninh Cơ mỗi vụ cả 15-23 đợt bồi đắp. Từ hồi thủy điện giữ nước, sông cạn trong leo lẻo, từ hồi dân chỉ quen bón phân hóa học mà quên phân chuồng, phân xanh, chất lượng gạo tám xoan kém đi trông thấy.

Mùi thơm của tám còn phụ thuộc vào… gió trời. Chỉ những năm có gió mùa thì lúa tám xoan mới có được mùi thơm đặc trưng còn không hương của nó phai nhạt đi rất nhiều.

Đến công đoạn phơi phóng, cất trữ, xay xát sự cầu kỳ của tám lại được đẩy lên một mức mới. Xưa các cụ phơi thóc tám trong chiếu cói, khi nắng gắt hốt hả gập hai mép chiếu để giữ lại vị thơm chứ không phơi trên sân bê tông hầm hập nóng như bây giờ.

Thóc phơi xong bảo quản bằng chum, vò sành, trên lót lá xoan khô rồi đậy kín nắp để tránh hư hao hương. Thóc được giã bằng cối để tách vỏ trấu sao cho hạt gạo vẫn còn mát chứ không xát trong máy nóng hừng hực bay hết cả mùi. Hiệp hội của bà Nhẫn cũng thử nghiệm xay bằng tay được một năm phải bỏ vì cầu kỳ quá nên giờ chỉ tách vỏ bằng máy và giã cối chạy bằng mô tơ.

Gạo tám từ lúc xát ra để được cùng lắm 20 ngày là sinh mốc vì dưỡng chất trong nó tự phân hủy. Cách nấu cơm tám cũng rất đặc biệt. Nồi gang mà chuẩn chỉ nhất là nồi đất đun đến lúc cạn nước rồi vùi luôn trong rơm tám cho đến lúc chín.

Nấu cơm bằng nước máy có nhiều clo khử trùng, lại dùng nồi cơm điện có lỗ thông hơi, mùi hương đặc trưng này sẽ hư hao gần hết. Đến ngay cả lúc ăn cơm tám cũng không như cơm thường mà phải chọn kỹ đối tác theo nó. Ăn cùng món xào hay chan canh sẽ mất hết vị ngon, dẻo của gạo mà đúng điệu nhất là ăn với giò lụa, chả quế, cá kho.

Nông dân không còn chuộng lúa tám xoan

Khó tính, khó chiều, hiệu quả kinh tế kém (năng suất 1 tạ, giá bán thóc 12.000đ/kg trong khi Bắc Thơm số 7 năng suất 2 tạ, giá bán 7.000đ/kg mà chỉ ba tháng là thu hoạch) khiến cho số hội viên gạo tám thui chột dần còn 200 người.

Diện tích cấy tám xoan cũng teo tóp còn 100 mẫu, co cụm ở Hải Đường, Hải Anh những xã vùng trũng, không cấy được mạ sân mà phải cấy mạ dược dài cây như tám xoan để tránh ốc bươu vàng tàn phá.

Do vậy, Hiệp hội mỗi năm chỉ thu mua được 60 tấn thóc sản xuất được một lượng chừng 35 tấn gạo. Trong khi ngay cả dân bản địa mũi còn hiếm khi gửi thấy mùi tám xoan đích thực thì ở các thành phố lớn, người ta lại thấy tám xoan Hải Hậu bán nhiều nhan nhản, nhiều đến phát nản như đại dịch…ốc bươu vàng.


Một lần bà Chủ tịch Hiệp hội Gạo tám xoan Hải Hậu ra thăm thân ở Hà Nội qua chợ xanh Định Công thấy cái biển “Gạo tám xoan Hải Hậu gặt non, giã thủ công”, lấy địa chỉ ngay xóm 14 xã Hải Anh, lấy tên và số điện thoại ngay của đơn vị mình.

Tò mò vào, vốc gạo trên tay bà Nhẫn không phải là thứ đặc sản quê mình mà chỉ là một loại gạo thơm nào đó. Lại có nhiều bận, người ta gọi điện từ Hải Phòng, Quảng Ninh về cho bà, trách rằng gạo đặc sản mà ăn chẳng kém gạo nấu rượu, xót lắm mới trả lời: “Chúng tôi không bán ở thị trường ấy thì làm sao có gạo tám xoan xịn được?”.

Nhiều đại lý bán hàng cho Hiệp hội thời gian đầu làm ăn tử tế rồi chơi bài gạo…trộn. Giã bỏ đại lý, gạo tám dò dẫm tìm kênh phân phối lớn. Đã từng đưa gạo tám vào Metro và tập đoàn Phú Thái nhưng được một thời gian ngắn, cuộc “hôn phối” ấy sớm đi vào ngõ cụt khi nông dân không chịu thấu cảnh cứ cuối tháng siêu thị lại giảm giá mạnh để đẩy hàng bởi sản phẩm này thường không bảo quản được quá 30 ngày.

Một dạo TCty Lương thực miền Bắc cũng tổ chức thu mua gạo tám xoan cho đơn vị, chẳng hiểu sao năm 2013 chỉ được vài tạ rồi thôi. Giờ gần như gạo tám chỉ được bán ở mỗi địa chỉ duy nhất là trụ sở của Hiệp hội ở xã Hải Anh mà không phải mùa nào, lúc nào cũng mua được.

Thóc tám để từ tháng mười âm đến tháng hai sang năm dù khách xa có nài nỉ mấy Hiệp hội cũng không dám bán vì sợ…ảnh hưởng đến thương hiệu bởi lúc đó “độ nhựa” trong gạo đã giảm, mùi thơm gần như đã kiệt.

Anh Phạm Văn Đông, Hiệp hội Gạo tám xoan, bảo rằng giá thu mua thấp, năng suất chưa bằng một nửa lúa thường, thời gian canh tác lại dài gấp đôi khiến cho những người trồng tám thực sự nản.

Trong đề án phát triển nông nghiệp, Hải Hậu từng đặt mục tiêu phát triển 1.500 ha nhưng với tình trạng hiện tại, người ta không dám chắc dăm ba năm nữa, diện tích tám của địa phương này trồng có đủ để biếu một vài đoàn cán bộ về thăm?

Đặc trưng của gạo tám xoan là màu trắng, trong xanh, hơi dài, thon nhỏ, vẹo một đầu, hạt căng bóng, cơm dẻo, vị ngọt hậu thanh tao.

Theo Báo NNVN

Thứ Năm, 30 tháng 5, 2013

Lúa đỏ hồi sinh

LUAGAO - Sau một thời gian vắng bóng trên đồng ruộng ven cửa sông, đầm phá của huyện Quảng Điền (TT- Huế), giống lúa cho gạo đỏ đã hồi sinh. Tuy sản lượng ít nhưng lúa đỏ không phải dùng thuốc, chi phí đầu tư thấp, giá gạo cao đang hứa hẹn cho nông dân một mùa vụ mới bội thu.

Đầm phá sống lại

Lúa đỏ một thời gắn với những vùng chân đất chua mặn, thấp trũng ven cửa sông, đầm phá của huyện Quảng Điền khi người dân đến định cư, khai canh lập địa, nó là nguồn lương thực không thể thiếu. Quảng Điền là huyện thuộc vùng trọng điểm SX lúa của tỉnh TT- Huế. Diện tích gieo cấy lúa hằng năm khoảng 7.000 ha, trong đó có 350 ha vùng ô trũng ven phá Tam Giang, tập trung ở hai xã Quảng Lợi và Quảng Thái.

Đây là những vùng chân đất chua mặn, trước đây nông dân chủ yếu cấy giống lúa địa phương (gạo đỏ). Mặc dù năng suất không cao, nhưng chi phí đầu tư thấp, ít sâu bệnh, không sử dụng thuốc BVTV nên có thể coi đây là sản phẩm gạo an toàn phù hợp với nhu cầu thị trường.

Lúa đỏ chống chịu tốt, không dùng thuốc BVTV, gạo sạch đang mở ra hướng đi cho 
nông dân Quảng Điền

Ông Hoàng Thảo, Phó Chủ tịch UBND xã Quảng Lợi cho biết: “Trước năm 1993, địa phương có khoảng 150 ha lúa cho gạo đỏ, chủ yếu tập trung ở vùng ô biền, thấp trũng. Qua thời gian, bà con nông dân đưa vào canh tác nhiều giống lúa mới năng suất cao hơn. Đến năm 2010, được sự hỗ trợ của Trường ĐH Nông lâm Huế về giống, phân bón và phổ biến kỹ thuật trồng gạo đỏ cho bà con nông dân, đưa vào phục tráng thử nghiệm với diện tích 1 ha.

Qua quá trình khảo nghiệm cho thấy, giống lúa đỏ có các đặc tính như cao cây, sinh trưởng và phát triển khá tốt trên chân đất chua mặn. Chiều cao trung bình 120 - 130 cm, phiến lá to, hạt có màu vàng cháy, bông dài, gié thưa, gạo màu đỏ, trọng lượng 1.000 hạt 25 - 26 gr, chất lượng gạo ngon, chịu chua mặn, ít sâu bệnh. Năng suất trung bình 150 - 170 kg/sào, thâm canh tốt đạt 190 - 200 kg/sào. Thời gian sinh trưởng 175 - 180 ngày, do đó chỉ thích hợp gieo cấy vụ ĐX”.

Vụ ĐX năm 2013, HTX Thắng Lợi (xã Quảng Lợi) đã đưa vào SX 7 ha lúa đỏ với 20 hộ dân tham gia trồng chủ yếu ở thôn Cổ Tháp, trong đó, có mô hình cá - lúa đỏ - vịt. Dự kiến, trong năm 2014 sẽ đưa vào trồng thêm 7 ha nữa và năm 2015 sẽ phát triển lên 30 ha. Đặc biệt, Quảng Lợi đã đưa vào trồng thử nghiệm với diện tích 4 sào lúa đỏ ở vùng rú cát cho thấy cây sinh trưởng phát triển tốt, thích ứng với đặc tính vùng đất này.

Bên cạnh đó, chương trình MTQG xây dựng NTM cũng đã hỗ trợ cho địa phương 255 triệu đồng thực hiện mô hình cá - lúa đỏ - vịt. Ông Hồ Xuân Trang, một hộ dân trồng lúa đỏ ở Quảng Lợi cho biết: “Gạo đỏ bà con trồng đã lâu, qua thời gian đưa vào SX giống lúa mới nên dần dần bà con ít trồng. Nay được hỗ trợ của UBND xã, tui đưa vào trồng 1 ha lúa đỏ, kết hợp với mô hình cá - vịt.

Tuy năng suất lúa thấp, từ 25 - 30 tạ/ha, nhưng lúa đỏ có khả năng chống chịu tốt, ít sâu bệnh, không phải dùng thuốc BVTV và đặc biệt, giá thành bán ra gấp 2 - 3 lần so với các giống lúa khác, trừ chi phí cũng lãi vài chục triệu đồng”.

Thương hiệu "Gạo đỏ Quảng Điền"
Không chỉ giá thành cao, gạo đỏ Quảng Điền còn có nguồn dinh dưỡng cao, có tác dụng về mặt y học. Thường được dùng bồi bổ cho người bệnh khi đau ốm. Để hướng gạo truyền thống ra thị trường, vừa qua, UBND tỉnh TT-Huế đã có quyết định cho Hội Nông dân huyện Quảng Điền lấy địa danh Quảng Điền làm thương hiệu gạo đỏ mang tên địa phương này.


Ông Nguyễn Văn Quang, Trạm trưởng Trạm Khuyến nông lâm ngư huyện Quảng Điền cho biết: “Thực hiện chủ trương của UBND huyện về việc khôi phục và mở rộng diện tích SX giống lúa gạo đỏ để từng bước xây dựng thương hiệu gạo an toàn của Quảng Lợi, Quảng Thái tiến tới SX theo hướng hàng hoá. Với những thành công bước đầu từ mô hình thử nghiệm tại xã Quảng Lợi, vụ ĐX 2012 -2013, Phòng Công thương huyện Quảng Điền phối hợp với Trạm Khuyến nông lâm ngư thực hiện mô hình “Khôi phục và mở rộng sản xuất lúa địa phương (gạo đỏ)”.

Theo đó, đã đưa vào trồng 2 ha lúa gạo đỏ tại HTX Tam Giang (xã Quảng Thái). Quá trình khảo nghiệm cho thấy, giống lúa này có khả năng chống chịu sâu bệnh rất tốt, không phải sử dụng thuốc BVTV và hầu như không bị nhiễm bệnh. Gạo đỏ đang được thị trường rất ưa chuộng, giá bán cao gấp 2 - 3 lần so với các loại gạo khác”. Ông Quang cho biết thêm, để hướng tới SX bền vững hơn, ngành chức năng cần có sự hỗ trợ cho người nông dân phát triển thêm diện tích lúa đỏ, tìm kiếm đầu ra bền vững cho sản phẩm.

Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2013

Phân bón cho lúa vụ hè thu

LUAGAO - NHỮNG KHÁC BIỆT LÚA ĐÔNG XUÂN VÀ HÈ THU

ĐBSCL hiện có khoảng 1,7 triệu ha đất trồng lúa, trong đó diện tích lúa 3 vụ/năm (ĐX, HT và TĐ) khoảng 600.000 ha, diện tích làm lúa 1 vụ/năm (chủ yếu ven biển) khoảng 100.000 ha và khoảng 1 triệu ha trồng 2 vụ lúa/năm với 2 vụ chính là ĐX và HT.

Vụ ĐX xuống giống vào khoảng tháng 11 - 12 năm trước, thu hoạch vào tháng 3 - 4 năm sau. Đây là vụ lúa có năng suất và hiệu quả nhất bởi hội tụ được các điều kiện tự nhiên tối thích cho các quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa. Vụ HT tiếp theo vụ ĐX nhưng phải căn ke sao cho thời điểm thu hoạch lúa vụ này không quá 15/8, bởi sau thời điểm đấy rất dễ bị lụt.

Bị bó hẹp trong khung thời vụ như thế nên so với vụ ĐX, lúa vụ HT có những bất lợi sau:

- Phải xuống giống trong điều kiện nắng nóng xen kẽ với những cơn mưa đầu mùa nên rất dễ bị xì phèn.

- Không có đủ thời gian để phơi đất, cày ải nên rất dễ bị nhiễm độc hữu cơ.

- Cây sinh trưởng trong điều kiện mùa mưa, trời nhiều mây, lượng bức xạ kém, chênh lệch nhiệt độ ngày đêm không cao nên năng suất lúa không cao.

- Nắng nóng và mưa nhiều nên dễ thất thoát phân bón

NHỮNG LƯU Ý KHI BÓN PHÂN VỤ HT

Bởi có những bất lợi như trên nên so với lúa vụ ĐX, việc bón phân cho lúa vụ HT cũng những điểm khác biệt và lưu ý như sau:

- Nhu cầu phân bón, nhất là phân đạm cho lúa vụ HT thấp hơn vụ ĐX. Thông thường để đạt năng suất từ 6,5 tấn/ha trở lên, lúa vụ ĐX ở ĐBSCL cần bón 90 - 100 kg N (tương đương khoảng 195 - 215 kg urê) thì lúa vụ HT chỉ cần bón 75 - 85 kg N (tương đương khoảng 165 - 185 kg urê).

- Cần bón nhiều phân lân hơn: Với lúa vụ ĐX chỉ cần bón 35 - 40 kg P2O5 (tương đương khoảng 215 - 250 kg lân supe) nhưng với lúa vụ HT phải bón nhiều lân hơn bởi đất dễ bị xì phèn khiến cho một lượng lân không nhỏ khi gặp các cation Al và Fe sẽ bị biến thành dạng khó tiêu. Lượng khuyến cáo là 40 - 50 kg P2O5 (tương đương khoảng 250 - 315 kg lân supe), thậm chí trên đất phèn nặng phải bón tới 60 kg P2O5 (tương đương khoảng 375 kg lân supe).

- Lượng phân kali có thể giữ nguyên như lượng bón cho lúa vụ ĐX (40 - 45 kg K2O, tương đương 65 - 75 kg KCl).

- Trên chân đất phèn nặng như Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên có thể phải bón thêm vôi với liều lượng khoảng 200 - 300 kg/ha.

- Cần cảnh giác với việc bón thừa phân đạm: Do trời nóng, hạn nên nhiều khi bón phân đạm nhưng không thấy hiệu quả rõ rệt nên dễ lầm tưởng rằng bón ít nên bón bổ sung thêm. Hệ quả là dư đạm và cây sẽ bộc phát khi có mưa.

ĐẦU TRÂU - PHÂN HIỆU QUẢ NHẤT VỤ HT

Do các đặc điểm thời tiết và sinh lý cây trồng như đã nói ở trên giá thành lúa vụ HT thường cao. Để người nông dân có được lợi nhuận thì việc giảm chi phí, trong đó chi phí về phân bón là quan trọng bởi phân bón chiếm tới 30 - 35% tổng chi phí.

Lấy ví dụ, với urê bình thường thì lượng sử dụng bình quân cho mỗi ha là khoảng 175 kg, nhưng nếu dùng phân đạm hạt vàng Đầu trâu 46A+ của Bình Điền thì chỉ cần 130 kg, giảm 35 kg. Giảm phân nhưng năng suất vẫn không giảm nhờ trong đạm hạt vàng 46A+ có hoạt chất Agrotain, chống được việc thất thoát đạm do bay hơi.

Tương tự nếu dùng DAP thông thường thì cần khoảng 100 kg/ha nhưng nếu dùng Lân Đầu trâu 46P+ thì chỉ cần 75 kg bởi trong Lân Đầu trâu 46P+ có hoạt chất Avail ngăn cản quá trình tiếp xúc giữa các cation Al, FE với HPO4 nên việc cố định Lân bởi phèn đã không xảy ra. Agrotain và Avail đều là thành tựu nông hóa mới nhất của Mỹ được Bình Điền độc quyền nhập khẩu ở VN và Đông Nam Á.

Những năm trước năm 2000, nông dân ĐBSCL ven sông Tiền, sông Hậu rất chuộng dùng phân NPK 16.16.8.13S của Philippines nhờ tính hiệu quả cao của nó. Tuy nhiên việc có hàm lượng lưu huỳnh cao trong phân đã tích lũy đáng kể lượng lưu huỳnh trong đất gây ngộ độc cho cây nên hiệu quả NPK16.16.8.13S giảm dần. Khắc phục tồn tại trên, Bình Điền có công nghệ sản xuất urê hóa lỏng, hàm lượng S trong phân giảm xuống chỉ còn dưới 5%.

Tiếp thu nhanh thành tựu mới của kỹ nghệ nông hóa của các nước phát triển, Bình Điền đã SX cho ra sản phẩm phân chuyên dùng Lúa 1, Lúa 2 bón cho lúa HT rất có hiệu quả bởi ngoài Agrotain và Avail, còn sử dụng Penax, sản phẩm của Cộng hòa liên bang Đức khiến cho tính chống chịu của Lúa tốt hơn trong điều kiện thời tiết khó khăn.

Công ty CP Phân bón Bình Điền đã tham gia tài trợ cho nhiều cánh đồng mẫu lớn suốt từ Bắc tới Nam. Chỉ riêng từ Bình Thuận trở vào, diện tích cánh đồng mẫu lớn do Bình Điền tài trợ đã lên tới 8.000 ha.

Thực tiễn chỉ đạo kỹ thuật bón phân ở các mô hình cánh đồng mẫu lớn ở Tây Ninh, khu vực sông Vàm Cỏ giáp với Long An, các nhà nông và các kỹ sư Bình Điền rút ra kinh nghiệm, đối với những ruộng bị nhiễm phèn nặng thì trong 2 lần bón 1 và 2 nên giảm 3 kg phân chuyên dùng lúa 1 và thêm vào 3 kg Lân Đầu trâu 46P+ thì hiệu quả sẽ cao hơn.

(Diễn giả: TS Chu Văn Hách, Viện Nghiên cứu Lúa ĐBSCL; TS Đỗ Minh Nhựt, PGĐ Sở NN-PTNT Kiên Giang; ThS. Phan Văn Tâm, Cty CP Phân bón Bình Điền)

Theo Báo NNVN

Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013

ỐC BƯƠU VÀNG

LUAGAO - Ốc bươu vàng (OBV) là dịch hại ngoại lai, nguồn gốc từ Nam Mỹ, du nhập vào Việt Nam khoảng năm 1985, thiệt hại ghi nhận đầu tiên vào năm 1994 tại Kiên Giang và TP.HCM. Đến nay, OBV đã lan tràn và gây hại nặng trên các vùng trồng lúa cả nước. OBV chỉ sống trong điều kiện nước ngọt, ruộng chua, phèn, độ pH < 4 hay độ mặn > 0,6% ốc không sống được. OBV gây hại bằng cách cắn đứt mạ từ khi sạ đến khoảng 20 ngày sau. Ruộng sạ hại nặng hơn ruộng cấy. OBV có tính đực, cái phân biệt, tỷ lệ đực/cái khoảng 3/7. Vòng đời (đẻ – bắt cặp – đẻ lại) khoảng 3 tháng, tuy nhiên ốc có thể sống tới 3 năm. Trứng được đẻ trên cao, ổ trứng có màu hồng tươi, khi sắp nở có màu hồng nhạt, 1 ổ có khoảng 150 – 300 trứng, tỷ lệ nở 90 – 95%. Trung bình 1 OBV cái có thể đẻ 500 – 1000 trứng/tháng. OBV sống và gây hại chủ yếu trong nước, tuy nhiên ốc cũng có thể sống trên cạn, trong điều kiện bất lợi (khô hạn) ốc vùi mình xuống đất từ 5 – 30 cm, khi có điều kiện thuận lợi (ruộng có nước) ốc trồi lên cắn phá trở lại. OBV có thể gây hại suốt ngày đêm, tuy nhiên thường gây hại chủ yếu vào chiều – tối. Thiên địch của OBV là kiến, chim, chuột, vịt, rắn, cá… và con người.

Để trừ ốc hiệu quả lâu dài, cần thiết phải áp dụng nhiều biện pháp mang tính tổng hợp chứ không dựa vào một vài biện pháp riêng lẻ và cần phải làm sớm từ đầu vụ, làm liên tục, rộng khắp. Các biện pháp bao gồm:

1. Đặt lưới mắt cáo bằng kim loại hay bằng lưới nylon hay bằng tre nứa ở cống, bọng dẫn nước để ngăn chận ốc lây lan đồng thời dễ thu gom. Nên đặt lưới sớm ngay từ đầu vụ đến khi thu hoạch.

2. Bắt ốc bằng tay. Nên bắt ốc sớm và liên tục từ lúc sạ đến 2, 3 tuần sau, nên làm lúc sáng sớm hay chiều mát. Ốc thu gom có thể dùng để ăn hay bán cho các trại nuôi vịt, nuôi cá bè, nuôi tôm, hay làm phân bón.

3. Vét rãnh trên ruộngđể khi tháo nước, ốc gom xuống rãnh dễ thu gom.

4. Cắm cọcrải rác trên ruộng để ốc lên đẻ rồi thu gom trứng bằng tay.

5. Thả vịt ăn ốc: Sau thu hoạch thả vịt ăn ốc để hạn chế mật số ốc lứa sau.

6. Ở nhiều nơi nông dân có kinh nghiệm không đưa nước vào ruộng sớm, chỉ giữ ruộng đủ ẩm, để hạn chế OBV di chuyển và gây hại. Giai đoạn chuẩn bị làm đất nếu cày bừa kỷ, cày sâu thì có thể diệt được OBV nằm vùi dưới ruộng. Ở nhiều nơi sau khi thu hoạch, bà con cày lật ngay để hạn chế OBV lứa sau.

7. Cho nước vào ruộng sớm (trước khi sạ)để nhử ốc trồi lên, sau đó cày diệt ốc.

8. Ở nhiều nơi bà con còn dùng cây xương rồng, cành lá đu đủ, lá thầu dầu, lá mướp, xơ mít, thân lá khoai mì … chặt thả xuống nước, nhựa cây dẫn dụ ốc làm ốc say, nổi lên mực nước giúp thu nhặt ốc dễ dàng hơn.

9. Sử dụng thuốc đặc trị Ốc Bươu Vàng


Thứ Năm, 29 tháng 11, 2012

ÁP dụng tiến bộ kỹ thuật hiệu quả


Lão nông Võ Văn Đỏ, "chuyên gia" SX lúa giống xã Vĩnh Công, huyện Châu Thành rất hài lòng với TBKT của Hợp Trí

LUAGAO - “Thực sự chúng tôi rất đắn đo khi sử dụng quy trình kỹ thuật của Cty Hợp Trí cho toàn bộ diện tích lúa của trại giống Hòa Phú”, ThS Trịnh Hoàng Việt, PGĐ Trung tâm Khuyến nông Long An chia sẻ.

"Ngả mũ bái phục"


Lý do đầu tiên khiến ông Việt e ngại bởi, năm nay trại Hòa Phú SX giống Nàng hoa 9, một giống lúa thơm chất lượng rất cao nhưng cũng rất mẫn cảm với các điều kiện bất lợi và sâu bệnh hại. Đây chỉ là một quy trình kỹ thuật chưa được công nhận là TBKT. Nhưng khi TTKN Long An áp dụng thì dưới con mắt người dân, quy trình đấy mặc nhiên đã được công nhận!


Tuy có e dè nhưng thực tế diễn ra trên 423,4 ha của 242 hộ SX cánh đồng mẫu lớn ở xã Tuyên Thạnh, huyện Mộc Hóa vụ HT vừa mới thu hoạch đã thúc giục TTKN Long An tiếp tục sử dụng quy trình.


Tại mô hình trên, tổng chi của ruộng áp dụng quy trình kỹ thuật của Hợp Trí thấp hơn ruộng đối chứng (để dân tự do SX theo thói quen) bình quân 1.991.820 đ/ha nhưng lợi nhuận lại cao hơn 8.729.320 đ/ha.


Tạo nên sự khác biệt nêu trên, chủ yếu do sự chênh lệch về năng suất, năng suất ở ruộng theo quy trình của Hợp Trí (đạt bình quân 6,75 tấn/ha), còn năng suất ruộng đối chứng SX theo tập quán của bà con nông dân chỉ đạt 5,3 tấn/ha.

Đấy là với lúa thịt, còn với lúa giống thì ngoài năng suất, điều căn bản hơn là chất lượng hạt giống. Tại buổi tham quan ngày 26/11 vừa qua, gần 50 nông dân chuyên SX lúa giống của tỉnh Long An đều thừa nhận chất lượng lúa giống Nàng hoa 9 của trại Hòa Phú khi SX theo quy trình của Hợp Trí đều có mã lúa đẹp hơn hẳn ruộng của họ.

Ông Võ Văn Đỏ, 73 tuổi, ngụ tại ấp 2 xã Vĩnh Công (huyện Châu Thành), nguyên nhà giáo nghỉ hưu, chuyên SX lúa giống gần 20 năm nay khi vuốt từng bông lúa phải tấm tắc: Giống Nàng Hoa 9 mà không có lép cậy, hạt lúa đều, sáng như rày là siêu lắm.

Anh Nguyễn Hoàng Quân, ấp Bình Trị 2, xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành, người mỗi năm thuê hơn 200 ha ruộng để chuyên SX lúa giống từ 8 năm nay, trong đó 7 ha thuê lại trại giống Hòa Phú cùng làm giống Nàng Hoa 9, cấy cùng ngày nhưng đã phải ngả mũ bái phục khi 2 đám ruộng cách nhau chỉ một con đường nhưng có mã lúa khác hẳn nhau.


Lấy dinh dưỡng làm nền tảng

Khác với những công ty BVTV khác, quy trình thâm canh lúa của Hợp Trí được xây dựng đảm bảo cây lúa khỏe ngay từ sơ sinh dựa vào một chế độ dinh dưỡng hợp lý nhất cho cây. KS Nguyễn Ngọc Chiểu, Phòng Kỹ thuật của Cty Hợp Trí, tác giả của quy trình cho biết: "Chúng tôi nghĩ rằng, cây lúa cũng như con người, nếu khỏe thì sức đề kháng cao nên không những sẽ hạn chế “cảm mạo, nhức đầu, sổ mũi khi trái gió trở trời” mà còn giảm thiểu được sâu bệnh hại.


Theo nguyên lý đó, quy trình của chúng tôi là tổng hợp nhiều giải pháp, tiến bộ đã được đúc kết từ việc làm đất, chọn giống, lượng giống, gieo sạ né rầy… Cái khác chăng chỉ là hạn chế tối đa dùng thuốc, chất kích thích tăng trưởng, khi bất khả kháng phải dùng thuốc thì sử dụng thuốc ít độc nhưng có hiệu quả cao".


Để làm được việc đó, Hợp Trí đã đưa một số dinh dưỡng cao cấp vào quy trình, chẳng hạn đưa Super Humic thay cho việc xử lý hạt giống bằng hóa chất, axit humic được bố trí bón lót, tẩm hạt giống trước lúc gieo cấy. Với hàm lượng axit humic đậm đặc lên đến 70% (chưa kể 20% axit fuvic) sẽ làm cho bộ rễ phát triển mạnh ngay nên cây lúa sẽ khỏe.

Theo Sở NN-PTNT Long An, chương trình cánh đồng mẫu lớn vụ ĐX 2012 - 2013 của tỉnh này vẫn tiếp tục mở rộng, trong đó mô hình ở xã Tuyên Thạnh, huyện Mộc Hóa được Hợp Trí chuyển giao quy trình người dân vẫn thiết tha tiếp tục, bởi lợi nhuận, tính bền vững và sức khỏe cho cộng đồng và môi trường của quy trình này mang lại.

Tương tự, việc sử dụng hydrophos có hàm lượng lân lên tới 44% sẽ thúc đẻ nhánh khỏe, tập trung, sử dụng casi có hàm lượng CaO dễ tiêu rất cao làm cho cây cứng, chống ngã đổ nên năng suất vẫn đạt mà hạn chế được sâu bệnh…

Việc sử dụng phân bón đủ, cân đối kết hợp với các dinh dưỡng bổ sung làm cho cây cường tráng để giảm thiểu thuốc BVTV là không khó về mặt kỹ thuật nhưng lại khó về mặt kinh tế. Làm sao để chi phí, bao gồm cả lao động không bị đội lên?

Trên thực tế, Hợp Trí đã làm được, chi phí khi áp dụng quy trình không những không bị đội lên mà còn luôn thấp hơn. Nếu nông dân tuân thủ quy trình chặt chẽ thì lượng phân NPK chỉ sử dụng trong mức 70 N - 50 P2O5 - 50 K2O, thấp hơn mức 110 N - 50 P2O5 - 40 K2O của ruộng ngoài mô hình, tính ra chỉ riêng đạm, áp dụng theo quy trình Hợp Trí đã giảm được 1,5 bao urê/ha.


Nguồn Báo NNVN

Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012

Giống lúa Việt ở châu Phi

LUAGAO - Vào năm 1966 tại Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) ở Philippines, giống lúa cao sản ngắn ngày đầu tiên được phóng thích. Vào những thập niên 60 và 70 của thế kỷ trước, nước ta chủ yếu trồng các giống lúa mùa địa phương truyền thống và giống lúa cao sản nhập nội từ IRRI. Tuy nhiên từ thập niên 80 trở về sau, các nhà khoa học VN đã lai tạo, chọn lọc, tạo ra những giống lúa cao sản phù hợp cho nhiều vùng sinh thái khác nhau ở trong nước. Những giống lúa này có mang gen di truyền từ nhiều vùng miền trên thế giới nên khả năng thích ứng rộng. Một số các giống lúa triển vọng này đang hiện diện tại châu Phi. Liberia và Sierra Leone Liberia và Sierra Leone là hai nước láng giềng ở vùng Tây Phi. Phía tây nam hai nước này giáp Đại Tây Dương. Những nước Tây Phi có thuận lợi là lượng mưa cao trong năm. Tại Liberia, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào khoảng tháng 10. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 4.320 mm. Đất ở đây tương tự như miền Đông Nam bộ của VN nhưng do lượng mưa nhiều nên đất xói mòn, tích tụ xuống vùng thấp hình thành những vùng đầm lầy bằng phẳng, có tiềm năng phát triển lúa nước. Ở Liberia cũng có những vùng đồng cỏ savanna có thể giữ nước mùa mưa trong năm trồng một vụ lúa thâm canh. Trên vùng đất phù sa đầm lầy tại Madina thuộc bang Grand Cape Mounth cách thủ độ Monrovia 150 km về hướng Tây Bắc, pH chua, 13 giống lúa đưa từ VN sang đã được trồng nghiên cứu. Những giống triển vọng nhất là OM6976, OM3536, OM8923. Các giống lúa VN trồng tại Liberia kéo dài thời gian sinh trưởng khoảng nửa tháng so với trồng ở VN. Giống N19 của Trung tâm Lúa gạo châu Phi (African Rice Center) cũng cho kết quả tốt, nhưng dài ngày hơn các giống của VN. Ở tại một điểm khác là trang trại Omega, cách trung tâm thủ đô Monrovia khoảng 30 km, những giống lúa cho kết quả triển vọng nhất là OM4900, OM3536 và OM5199. Trong khi đó Sierra Leone có đất đai, khí hậu thời tiết tương tự như Liberia. 50 giống lúa VN đã mang sang thử nghiệm. Giống lúa cho kết quả tốt nhất là OM2514. 


Nhóm chuyên gia trồng lúa VN ở Châu Phi

Rwanda
Nước Rwanda ở miền Trung châu Phi, nằm trong nội địa không tiếp giáp với biển và còn có tên gọi là đất nước ngàn đồi. Với độ cao trung bình 2.740 m so với mực nước biển. Khí hậu giống như Đà Lạt của VN với nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 23 độ C. Lượng mưa trung bình khoảng 830 mm/năm. Đất dưới thung lũng có nhiều chất hữu cơ, pH thấp và được sử dụng trồng lúa. Trên 20 giống lúa từ VN được đưa sang, trồng so sánh với các giống châu Phi. Kết quả thí nghiệm trong năm 2003 - 2004 cho thấy giống OM 4498 cho kết quả nổi trội nhất, chống chịu lạnh rất tốt, năng suất cao nhất, không bị lép do lạnh như những giống khác. Sudan Sudan ở miền Đông Bắc châu Phi có phía đông giáp với biển Đỏ. Đất đai ở Sudan còn rất rộng lớn nhưng chưa được khai thác đúng mức. Lượng mưa trung bình hàng năm thấp chỉ khoảng 416 mm/năm, nhưng đất nước này có nguồn nước dồi dào từ sông Nile Xanh ở phía đông và sông Nile Trắng ở phía tây. Hợp lưu của hai sông tại thủ đô Khartoum và chảy qua Ai Cập, đổ về biển Địa Trung Hải. Về phía Bắc cách thủ đô Thủ đô Khartoum 300 km trên vùng sa mạc Sahara, lúa cũng được thử nghiệm trên đất phù sa kiềm (pH = 7,5 - 8) dọc sông Nile, xen kẽ với những vườn chà là chắn gió. Tuy nhiên tiềm năng phát triển lúa gạo trên diện rộng ở vùng sa mạc này không cao. Tại đây vào cuối tháng 1/2011, 50 giống lúa từ VN được gieo trồng trong vụ xuân. Cây lúa thấp hơn ở VN khoảng 15 -20 cm nhưng thời gian sinh trưởng kéo dài thêm khoảng 30 - 60 ngày tùy từng giống. Qua khảo sát, các giống có triển vọng là: OM8105, OM6706, OM6916, OM6698, OM10029, OM4900 và OM6014. Vùng có tiềm năng nhất là vùng đất phù sa có tưới thuộc bang sông Nile Trắng và bang Gezara nằm giữa sông Nile Trắng và sông Nile Xanh. Thời vụ tốt nhất để trồng lúa tại vùng này là gieo trong khoảng thời gian từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 7 hàng năm. Lưu ý sử dụng hóa chất diệt cỏ. Khi lúa trổ trùng khớp với mùa thu hoạch cao lương vào tháng 11-12 thì ít bị chim phá hoại. 54 giống lúa cao sản VN được trồng trong mùa mưa vào tháng 7 năm 2010 trên vùng đất phù sa ven sông Nile trắng có pH là 8,3. Các giống triển vọng nhất kết luận được là OM2514, OM8923, MTL466, AS996 và OM4218. Mozambic Nước Mozambic nằm ở vùng duyên hải Ấn Độ Dương, Đông Nam châu Phi thuộc vùng khí hậu nhiệt đới với hai mùa mưa nắng. Mùa mưa trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 3 hằng năm, lượng mưa trung bình 590 mm/năm. Nhiệt độ 13-24 độ C trong tháng 7 và 22-31 độ C trong tháng 2. Có 13 giống lúa từ VN được mang sang thí nghiệm và nhân giống từ năm 2010 đến đầu năm 2012, trong đó 3 giống cho kết quả ưu việt nhất là OM2514, OM6979, OM6162 với năng suất biến thiên 7-8 tấn/ha. Điểm đặc biệt nhất ở Mozambic là bên cạnh việc nghiên cứu kết luận các giống lúa VN phù hợp trong vùng, các chuyên gia nước ta còn tập huấn kỹ thuật canh tác lúa cho người dân địa phương và nhân được một số lượng lớn lúa giống phục vụ SX ra trên diện rộng. Tổng sản lượng hạt giống thu được 240 tấn vào đầu năm 2012.

PGS.TS DƯƠNG VĂN CHÍN - NNVN

Thứ Năm, 19 tháng 7, 2012

Ấn tượng máy làm mạ khay

LUAGAO - Trong chuyến tham quan học tập kinh nghiệm xây dựng chương trình nông thôn mới và triển khai mô hình cánh đồng mẫu lớn tại tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc vừa qua, cán bộ Trung tâm Khuyến nông, Chi cục Phát triển nông thôn hết sức ấn tượng bởi cách làm mạ khay của nông dân nước này.

Dây chuyền làm mạ khay tại Triết Giang
- Theo ông Dũng, Phó trạm trưởng Nông viện cơ giới TP Kim Hoa (Chiết Giang), mô hình làm mạ khay trên máy hiệu quả kinh tế rất cao, mỗi thôn chỉ cần trang bị 1 máy là đủ năng lực cung cấp mạ, xuống giống đồng loạt kịp theo lịch thời vụ để hạn chế sâu bệnh cũng như thời tiết bất thuận.
Quy trình làm mạ khay trên dây chuyền này rất đơn giản và dễ vận hành, người nông dân chỉ cần quan sát một lần là có thể thành thạo. Hơn nữa chi phí cho chiếc máy này tương đối rẻ, chỉ khoảng hơn 20.000 NDT, tương đương 65 triệu VNĐ. Hiện loại máy làm mạ khay này đang được nhà SX máy nông cụ Lion chào bán rất nhiều cùng với các loại máy làm đất, máy gặt đập liên hợp, máy cấy tại thị trường VN.

Mạ sắp đến tuổi xuống đồng trong hệ thống nhà lưới
Ông Dũng giải thích thêm, trước khi đưa nguyên liệu làm mạ khay lên dây chuyền, người dân cần lấy phân trâu bò ủ hoai rồi trộn với đất và nước đã sát trùng để diệt trừ mầm bệnh. Sau đó tiến hành các bước đưa đất lên máy và đổ thóc giống vào phễu để máy chạy rồi đón khay mạ đưa vào nhà lưới. Chỉ sau 7 ngày là mạ lên đúng thời điểm có thể đưa ra đồng chuyển lên máy cấy.
Ông Nguyễn Quang Hùng, cán bộ Trung tâm Khuyến nông Bắc Giang cho biết, ông sức ấn tượng với mô hình cơ giới hóa đồng bộ trong SX lúa của nông dân Triết Giang. Mặc dù ở Bắc Giang đã trình diễn máy cấy của KUBOTA từ vụ mùa 2012, nhưng việc triển khai chưa được đồng bộ do đồng ruộng manh mún. Hy vọng thời gian tới Nhà nước sẽ có chính sách hỗ trợ máy cấy, máy làm mạ khay cho các tổ hợp tác, HTX thì việc triển khai sẽ hiệu quả hơn.






(Theo Báo NNVN)

Thứ Bảy, 7 tháng 7, 2012

Gian nan tiêu thụ lúa gạo cuối năm

LUAGAO - Ngày 5/7, tại TP HCM, Bộ Công thương cùng Hiệp hội Lương thực Việt Nam đã tổ chức hội nghị sơ kết XK gạo 6 tháng đầu năm và định hướng 6 tháng cuối năm 2012. Mối băn khoăn lớn tại Hội nghị là khả năng xuất khẩu gạo 6 tháng cuối năm và thu mua tạm trữ lúa hè thu ở ĐBSCL.

Lo Thái Lan, Myanmar…

Theo ông Phạm Văn Bảy, Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), trong 6 tháng đầu năm nay, các doanh nghiệp đã đăng ký hợp đồng xuất khẩu 5,288 triệu tấn gạo. Trong đó, 3,414 triệu tấn đã được giao cho khách hàng nước ngoài. Như vậy, lượng gạo đã xuất khẩu trong 2 quý vừa qua cao hơn so với dự kiến trước đây tới 300-400 ngàn tấn, nhưng vẫn thấp hơn 500 ngàn tấn so với cùng kỳ 2011.

Đến nay, trong kho của các doanh nghiệp vẫn còn tồn 1,688 triệu tấn gạo. Lượng gạo hàng hóa trong 6 tháng cuối năm vào khoảng 3,2 triệu tấn (2,9 triệu tấn vụ hè thu và 0,3 triệu tấn vụ thu đông). Như vậy, lượng gạo hàng hóa từ nay đến cuối năm là 4,888 triệu tấn. Trên cơ sở đó, VFA đề ra định hướng về lượng gạo sẽ xuất khẩu trong 2 quý còn lại của năm nay là 3,6 triệu tấn, để đạt mức xuất khẩu cả năm trên 7 triệu tấn gạo. Còn 1,286 triệu tấn gạo sẽ được chuyển gối đầu cho xuất khẩu đầu năm 2013.


Sản lượng lúa tăng cao, XK không thuận lợi, giá lúa xuống thấp, nông dân bị thiệt hại

Hiện tại, số hợp đồng đã ký giao hàng từ 1/7 trở đi là 1,874 triệu tấn. Do đó, các doanh nghiệp chỉ cần ký hợp đồng xuất khẩu thêm khoảng 1,8 triệu tấn nữa là đạt được mục tiêu định hướng nói trên. Đây là điều không hề dễ dàng, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh trên thị trường gạo thế giới sẽ rất gay gắt trong những tháng cuối năm nay. Ông Nguyễn Thành Biên, Thứ trưởng Bộ Công thương cho rằng tất cả các phân khúc gạo đều sẽ có sự cạnh tranh rất khốc liệt. Ở Thái Lan, lượng gạo tồn kho hiện đã lên tới trên 11 triệu tấn và nước này gần như đã hết kho chứa trong khi vụ thu hoạch mới đã gần kề. Vì thế, nếu Thái Lan bất ngờ “xả hàng” trong thời gian tới, việc tiêu thụ gạo Việt Nam sẽ càng trở nên khó khăn hơn nữa. Còn theo ông Trương Thanh Phong, Chủ tịch VFA, ngoài Thái Lan, Ấn Độ và Pakistan, Myanmar cũng đang nổi lên rất mạnh và trở thành mối lo ngại lớn nhất của các nhà xuất khẩu gạo Việt Nam, khi gạo Myanmar có sự tăng mạnh về sản lượng mà giá bán lại rất thấp.

Trước tình hình đó, ông Nguyễn Thành Biên khẳng định trước hết phải làm tốt hơn nữa và giữ thật vững thị trường Trung Quốc vì đây đang là thị trường lớn nhất của hạt gạo Việt Nam, với lượng hợp đồng chính ngạch đã ký là 1,2 triệu tấn và trên 900 ngàn tấn đã được giao. Theo đó, tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp (giảm giá bán) hay vì mối lợi trước mắt mà làm mất uy tín gạo Việt Nam (trộn gạo thường vào gạo thơm theo yêu cầu của khách hàng Trung Quốc) phải được chấm dứt ngay. Đồng thời, phải thúc đẩy mạnh việc thâm nhập vào những thị trường đầy tiềm năng như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan… Theo ông Biên, với thị trường Hàn Quốc, vừa qua đã có tín hiệu vui là 4 doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu xuất khẩu gần 30 ngàn tấn gạo vào nước này. Nhật Bản sau 5 năm ngưng nhập khẩu gạo Việt Nam vì dư lượng hóa chất, cũng đã quay lại mua thăm dò. Ngoài ra, trong 6 tháng cuối năm nay, Bộ Công thương cũng sẽ đẩy mạnh xúc tiến thương mại gạo Việt Nam ở các nước Trung Đông và châu Phi…

Tạm trữ 500 ngàn tấn quy gạo

Xét đề nghị của Bộ NN-PTNT và ý kiến của các bộ, ngành liên quan, cùng ý kiến của VFA, ngày 2/7/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 821/QĐ-TTg về việc tạm trữ tối đa 500 ngàn tấn quy gạo vụ hè thu 2012 ở ĐBSCL. Thời gian mua tạm trữ từ 10/7 đến 10/8/2012. VFA được giao tổ chức phân giao cho các thương nhân mua lúa gạo tạm trữ. Ngân sách nhà nước sẽ hỗ trợ 100% lãi suất tiền vay mua lúa, gạo tạm trữ trong thời gian tối đa là 3 tháng (từ 10/7 đến 10/10/2012).

Theo ông Trương Thanh Phong, giá thành lúa hè thu ở nhiều địa phương lên tới trên dưới 4.500 đ/kg cho thấy chi phí sản xuất lúa đã bị đẩy lên quá cao. Với giá thành này, các doanh nghiệp đang ở trong tình trạng “tiến thoái lưỡng nan”, vì mua giá thấp sẽ không đảm bảo lợi nhuận cho nông dân, còn mua giá cao, doanh nghiệp rất dễ bị thua lỗ nặng nề do giá gạo Việt Nam hiện đã ở mức thấp nhất trên thế giới (chỉ tính những nước xuất khẩu chính).


Ông Nguyễn Thành Biên cho hay, các bộ, ngành và VFA đã cân nhắc kỹ lưỡng và thống nhất rằng chỉ nên mua tạm trữ 500 ngàn tấn quy gạo, bởi nếu mua hơn sẽ gây thêm áp lực cho ngân sách nhà nước. Bởi những lần tạm trữ trước đây với mức 1 triệu tấn quy gạo, lần nào nhà nước cũng phải bù lỗ hàng trăm tỷ đồng cho các doanh nghiệp tạm trữ không lãi suất trong thời hạn 3 tháng.

Mối băn khoăn nhất hiện nay là giá sàn tạm trữ lúa gạo vụ hè thu này sẽ là bao nhiêu? Trong Quyết định nói trên của Thủ tướng Chính phủ, không nói rõ việc này. Trong khi đó, theo văn bản số 8605/BTC-QLG do Bộ Tài chính ban hành ngày 27/6/2012, giá thành sản xuất lúa hè thu ở các tỉnh, TP vùng ĐBSCL rất khác nhau.

Tỉnh có giá thành cao nhất là Tiền Giang lên tới 4.540 đ/kg, cao hơn tới 1.016 đ/kg so với tỉnh có giá thành thấp nhất là Kiên Giang (3.524 đ/kg). Nhiều tỉnh khác cũng có giá thành trên 4.000 đ/kg, như Hậu Giang (4.367 đ/kg), Long An (4.356 đ/kg), Đồng Tháp (4.325 đ/kg), Vĩnh Long (4.137 đ/kg) và Cần Thơ (4.016 đ/kg). Như vậy, nếu lấy giá thành bình quân của cả vùng là 3.993 đ/kg để tính ra giá sàn thu mua đảm bảo cho nông dân lời tối thiểu 30% là 5.200 đ/kg, thì người trồng lúa hè thu ở những tỉnh như Tiền Giang, Hậu Giang, Long An và Đồng Tháp sẽ phải chịu thiệt khá nhiều. Bởi thế, ông Nguyễn Thành Biên cho rằng VFA cùng với các doanh nghiệp và các địa phương phải ngồi lại với nhau để giải quyết sự khác biệt khá lớn về giá thành sản xuất lúa giữa các tỉnh, TP, qua đó, tìm ra được giá sàn thu mua hợp lý nhất.

(Theo Báo NNVN)

Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2012

Hạn chế tối đa việc chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang sử dụng vào các mục đích phi nông nghiệp

LUAGAO - Bắt đầu từ ngày 1/7/2012, ngoài được hỗ trợ sản xuất lúa hàng năm, người sản xuất lúa còn được hỗ trợ sản xuất lúa bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh. Đây là một trong những nội dung vừa được Chính phủ ban hành Nghị định 42/2012/NĐ-CP về quản lý, sử dụng đất trồng lúa. 

Cụ thể, ngân sách Nhà nước hỗ trợ 70% chi phí phân bón và thuốc bảo vệ thực vật khi sản xuất lúa bị thiệt hại trên 70%; mức hỗ trợ là 50% khi sản xuất lúa bị thiệt hại từ 30 - 70%. Đồng thời, ngân sách Nhà nước cũng sẽ hỗ trợ 70% chi phí khai hoang, cải tạo đất chưa sử dụng thành đất trồng lúa hoặc cải tạo đất lúa khác thành đất chuyên trồng lúa nước; mức chi phí do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xác định. Hỗ trợ 100% giống lúa trong năm đầu để sản xuất trên diện tích đất trồng lúa mới khai hoang. Hỗ trợ 70% giống lúa trong năm đầu để sản xuất trên diện tích đất lúa khác được cải tạo thành đất chuyên trồng lúa nước. Ngoài ra, sẽ ưu tiên hỗ trợ chi phí bảo hiểm sản xuất lúa theo quy định. Nghị định cũng quy định hỗ trợ ngân sách cho địa phương sản xuất lúa. 

Đối với các năm trong thời kỳ ổn định ngân sách địa phương từ 2012 - 2015, ngoài hỗ trợ từ ngân sách nhà nước theo quy định hiện hành còn được ngân sách trung ương hỗ trợ bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương để sản xuất lúa. Cụ thể, hỗ trợ 500.000 đồng/ha/năm đối với đất chuyên trồng lúa nước; hỗ trợ 100.000 đồng/ha/năm đối với đất lúa khác trừ đất lúa nương được mở rộng tự phát không theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa. 

Nghị định nêu rõ, hạn chế tối đa việc chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang sử dụng vào các mục đích phi nông nghiệp; khuyến khích việc khai hoang mở rộng diện tích đất trồng lúa, cải tạo đất lúa khác thành đất chuyên trồng lúa nước. Việc chuyển mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước phải đáp ứng 3 điều kiện: phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng; có phương án sử dụng đất tiết kiệm tối đa, thể hiện trong thuyết minh tổng thể của dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt; tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp từ đất chuyên trồng lúa nước theo quy định phải có phương án sử dụng lớp đất mặt và bù bổ sung diện tích đất chuyên trồng lúa nước bị mất do chuyển mục đích sử dụng theo quy định. 

Nghị định cũng quy định cụ thể trách nhiệm của người sử dụng đất trồng lúa. Theo đó, người sử dụng đất trồng lúa phải sử dụng đúng mục đích theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt; sử dụng tiết kiệm, không bỏ đất hoang, không làm ô nhiễm, thoái hóa đất. Nghiêm cấm các hành vi: Gây ô nhiễm, làm thoái hóa, làm biến dạng mặt bằng của đất dẫn đến không trồng lúa được; bỏ hoang đất chuyên trồng lúa nước từ 12 tháng trở lên và đất lúa khác từ 2 năm trở lên không vì lý do thiên tai bất khả kháng./. 

(Theo TTXVN) 

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012

Nỗi lo trước vụ lúa hè thu 2012


LUAGAO - Vụ lúa HT 2012, ĐBSCL có kế hoạch xuống giống hơn 1,6 triệu ha. Nhiều vấn đề được các địa phương đặc biệt quan tâm là khô hạn, xâm nhập mặn, dịch bệnh và liên kết SX theo cánh đồng mẫu lớn (CĐML).
Trung tâm Khí tượng thủy văn Bến Tre cho biết: Tình hình xâm nhập mặn ngày càng lấn sâu vào nội đồng. Hiện tại, người dân TP Bến Tre đang sử dụng nước đã nhiễm mặn, sẽ ảnh hưởng lớn đối với SX lúa HT. Trên sông Hậu, độ mặn 4%0 cũng đã xâm nhập sâu cách cửa Trần Đề khoảng 50 km. 
Tại Hậu Giang, mặn đã về sớm hơn cùng kỳ khoảng 10 ngày. Ông Nguyễn Văn Đồng, GĐ Sở NN- PTNT Hậu Giang cho biết: Độ mặn 3%0 đã về đến các xã tiếp giáp với sông Cái Lớn từ biển Tây đi vào TP Vị Thanh và xã Hỏa Tiến, Vĩnh Viễn thuộc huyện Long Mỹ. Nếu như độ mặn năm nay bằng năm 2009 thì nguy cơ sẽ có khoảng 2.000 ha lúa HT ảnh hưởng nặng. Hiện tại, chính quyền địa phương ở các khu vực có nguy cơ bị mặn xâm nhập đã tiến hành kiểm tra, tu sửa các cống đập thời vụ.
Về lâu dài và căn cơ Hậu Giang đầu tư thi công tuyến đê bao ngăn mặn Vị Thanh- Long Mỹ. Ngoài ra một số dự án ngăn mặn triệt để như đê bao tuyến Vị Thanh- Vịnh Chèo, huyện Vị Thủy; dự án Vị Thủy- Vịnh Chèo, dự án Nam Xà No với tổng chiều dài khoảng 20 km với kinh phí dự kiến gần 300 tỷ đồng; sớm hoàn chỉnh dự án WB6 (Ô Môn- Xà No) giai đoạn 2 với gần 30 cống cấp 2.
Hậu Giang cũng kêu gọi các nhà đầu tư xây dựng hồ nước ngọt tại xã Vĩnh Tường bằng nguồn vốn ODA với diện tích hồ 100 ha để trữ nước ngọt. Ngoài giải pháp công trình, Hậu Giang phối hợp với Viện Lúa ĐBSCL thực nghiệm giống lúa OM 5464 thích nghi với điều kiện BĐKH. Giống lúa này đang được ngành nông nghiệp nhân ra để phục vụ bà con canh tác trong các vụ tới.
Thực hiện SX theo CĐML trong vụ HT này cũng được nhiều tỉnh đặc biệt quan tâm. Ông Dương Nghĩa Quốc, GĐ Sở NN- PTNT Đồng Tháp cho biết: Chủ trương phát triển CĐML là hướng mở rộng diện tích lúa chất lượng cao. Nhưng muốn bền vững thì DN tham gia ký kết hợp đồng phải mang tính chiến lược lâu dài. Bộ NN- PTNT cần có một cơ chế chính sách trong chiến lược liên kết giữa DN và nông dân thực hiện CĐML.
Liên quan đến vấn đề tiêu thụ lúa trên CĐML, ông Trần Quang Củi, PGĐ Sở NN- PTNT Kiên Giang kiến nghị: Chính phủ chỉ đạo cho DNXK gạo thuộc hệ thống Nhà nước tham gia ký hợp đồng thu mua trên CĐML. Để làm được điều này thì phải có Hiệp hội Lương thực VN tham gia. DN đặt hàng nông dân SX thì chắc chắn chất lượng gạo sẽ rất tốt, XK được giá cao, nông dân có lợi nhiều.
Công tác chỉ đạo xuống giống cần tuân thủ các nguyên tắc chung: Bố trí thời vụ né mặn, hạn ở những vùng có nguy cơ ảnh hưởng cao. Gia cố bờ bao, tu sửa hệ thống kênh mương nội đồng. Phải đảm bảo thời gian giãn vụ, cày ải, phơi đất ngay sau thu hoạch tối thiểu là 20 ngày để cách ly nguồn bệnh nhằm đảm bảo năng suất lúa HT.
Ông Đoàn Ngọc Phả, PGĐ Sở NN- PTNT An Giang nói: Từ năm 2002 đến nay việc SX theo hợp đồng có rất nhiều trở ngại, vì thế từ nay về sau khi thực hiện CĐML có DN tham gia thì phải xác định DN có nhu cầu thực sự, năng lực thật sự. Hiện tại, trên 8.000 ha lúa của An Giang đang SX theo CĐML là DN có nhu cầu. SX theo các tiêu chuẩn Viet GAP và hướng đến Global GAP và được các DN xây dựng thương hiệu riêng.
Riêng về tình hình dịch bệnh trên trà lúa HT cũng được Cục BVTV đặc biệt lưu ý. Ông Nguyễn Hữu Huân, Phó Cục trưởng Cục BVTV cho biết: Trà lúa HT sớm ở các tỉnh Long An, An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Hậu Giang đã có khá nhiều diện tích nhiễm rầy nâu, tỉ lệ rầy nâu mang mầm bệnh vẫn còn cao, các địa phương cần hết sức cảnh giác.
Hiện tại, đợt rầy tháng 4 đã qua nhưng đến tháng 5 phải cảnh giác vì có đến 2 đợt rầy di trú: Đợt 1 từ 27/4 đến 5/5; Đợt 2 từ 25/5 đến 31/5. Tháng 6 rầy nâu di trú từ 20/6 đến 25/6. Ngoài các đối tượng sâu bệnh gây hại có thể sẽ gặp rất nhiều khó khăn về nguồn nước tưới và xâm nhập mặn.
(Báo NNVN)