Thứ Năm, 28 tháng 1, 2010

BỆNH ĐẠO ÔN HẠI LÚA VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

LUAGAO - Theo báo cáo của Trung tâm BVTV phía Nam, tính đến ngày 25/01/2010 thì:

- Lúa Thu Đông-Mùa 2009: Cơ bản thu hoạch xong, còn một ít diện tích lúa Mùa ở giai đoạn đòng trổ-chín.

- Lúa ĐX 2009-2010: Toàn vùng xuống giống được 1.566.303 ha (khu vực ĐBSCL: 1.464.312 ha, khu vực Đông Nam Bộ: 101.991 ha). Bao gồm giai đoạn mạ (172.161 ha), đẻ nhánh (750.737 ha); đòng trổ (481.509 ha), chín (104.480 ha), thu hoạch (57.416 ha). Cũng theo báo cáo ngày thì tình hình bệnh đạo ôn phát triển như sau:

+ Bệnh đạo ôn lá:Toàn vùng có 98.996 ha lúa bị nhiễm bệnh (tăng 19.533 ha so với tuần trước) với tỷ lệ bệnh phổ biến từ 5 đến 10%, nơi cao >20% với diện tích 1.181 ha. Các tỉnh có bệnh xuất hiện như Kiên Giang, Long An, Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang, Sóc Trăng, Hậu Giang, Tiền Giang, Cần Thơ, Trà Vinh…

+ Bệnh đạo ôn cổ bông: Toàn vùng có khoảng 2.179 ha nhiễm bệnh (gỉam 144 ha so với tuần trước), với tỷ lệ bệnh 5-10%. Bệnh xuất hiện ở các tỉnh Bạc Liêu, Long An, Đồng Tháp, Lâm Đồng, Sóc Trăng, Đồng Nai.

Theo dự báo của Trung tâm BVTV phía nam thì tình hình Bệnh đạo ôn sẽ tiếp tục phát sinh phát triển gây hại trên diện rộng ở hầu hết các tỉnh trong vùng và có khả năng gây hại nặng đối với những ruộng sạ dày, bón thừa phân đạm, sử dụng giống nhiễm (Jasmine, VD 20, HĐ 1, OM 2514...). Bà con Nông dân phải thăm đồng thường xuyên để phát hiện sớm bệnh đạo ôn lá và xử lý kịp thời bằng thuốc đặc trị, phun ngừa bệnh đạo ôn cổ bông trước và sau khi lúa trổ; khi ruộng đã bị nhiễm bệnh cần giữ nước tốt trên ruộng, không bón phân hoặc phun phân bón lá.

Để giúp bà con hiểu hơn về bệnh đạo ôn, đặc điểm phát sinh phát triển, dấu hiệu nhận biết. Hôm nay tôi xin trình bày đôi nét về bệnh đạo ôn và một số biện pháp phòng trị để bà con chủ động đối phó; nâng cao năng suất chất lượng.

Người ta phân làm hai loại bệnh đạo ôn: đạo ôn lá (tác hại trên lá) và đạo ôn cổ bông (tác hại trên bông)

1. Tác nhân và triệu chứng gây bệnh.

· Nguyên nhân: Do nấm Pirycularia oryzae gây ra.

· Bệnh gây hại trên tất cả bộ phận của cây Lúa: lá, đốt thân, cổ bông, cổ gié và hạt.

Hình 1: Triệu chứng ban đầu xuất hiện trên lá là những vết châm kim

Hình 2: Triệu chứng điển hình trên giống nhiễm nặng những vết hình mắt én

Hình 3: Triệu chứng bệnh trên cổ bông

2. Đặc điểm phát sinh, phát triển bệnh.

· Phụ thuộc nhiều vào yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ẩm độ do đó bệnh phát triển thất thường, bệnh xuất hiện và gây hại từ giai đoạn mạ đến khi trỗ chín

· Điều kiện thời tiết: bệnh hại nặng vào lúc trời mát, ẩm, có sương mù, gió mạnh.

· Ảnh hưởng bởi phân bón: bón nhiều N bệnh nặng, bón P hạn chế được bệnh (ở vùng phèn), bón K tuỳ thuộc vào lượng N.

· Ảnh hưởng của giống: ở ruộng trồng giống nhiễm, điều kiện thời tiết thuận lợi bệnh phát triển nặng.

· Ở những vùng lúa bị hạn, ở những vùng trồng lúa nương, biên độ nhiệt ngày đêm chênh lệch lớn, sương mù thì bệnh cũng phát triển và gây hại rất nặng.

3. Biện pháp phòng trừ

· Chọn giống kháng hoặc giống ít nhiễm.

· Vệ sinh đồng ruộng, đốt tàn dư sau khi thu hoạch, cày vùi.

· Sử dụng phân bón cân đối hợp lý.

· Giữ nước thường xuyên cho ruộng lúa nhất là khi có dịch bệnh.

· Theo dõi diễn biến của bệnh, đặc biệt chú ý các giống nhiễm. Khi bệnh phát sinh nên cho thêm nước vào ruộng, ngưng bón phân đạm, không phun phân bón lá và thuốc kích thích sinh trưởng, phun các loại thuốc đặc trị bệnh.

· Dùng các loại thuốc đặc trị bệnh đạo ôn

Hiện tại trên thị trường có nhiều hoạt chất đặc trị bệnh đạo ôn, và nhiều tên thương mại khác nhau. Hôm nay tôi xin giới thiệu với bà con một sản phẩm thuốc rất hiệu quả phòng trị đạo ôn, đó là TRIZOLE của Công ty CP BVTV SAIGON.

- TRIZOLE có ba dạng 20WP; 75WP; 75WDG; có hoạt chất là Tricycrazole chuyên trị đạo ôn cổ bông; và cũng trị được đạo ôn lá. Thuốc hấp thu qua lá và lưu dẫn vào cây nên vừa phòng bệnh và vừa trị bệnh.

- Liều lượng và cách thức sử dụng bà con đọc kỹ trên nhãn thuốc.

- TRIZOLE hiện có bán tại hầu hết các Đại lý trên toàn quốc.

- Ngoài ra một sô thuốc để phòng và trị đạo ôn bà con có thể phun xịt như Kisaigon 50ND; Lúa Vàng 20WP; Pysaigon 50WP,…

- Mọi vấn đề về kỹ thuật vui lòng liên hệ: Nguyễn Chí Công – Phòng Quảng Bá, Công ty CP BVTV SAIGON, DTDD: 0902 339 006.

Chúc thành công!

Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2010

‘Chúa đất’ miền Tây (kỳ 1)

LUAGAO - Với cách nghĩ, cách làm nông nghiệp mới, nhiều nông dân miền Tây Nam Bộ đã dựng nên những nông trang bao la, được trang bị cơ giới “tận răng”.

Vùng Tứ giác Long Xuyên phèn chua nước mặn, “muỗi kêu như sáo, đỉa lội tựa bánh canh” ngày nào, giờ xuất hiện những ông “chúa đất” với diện tích trồng lúa một vài ngàn công tầm cắt (1.296 m2 một công).

“Tui là dân “đấu ao” nuôi cá, vậy mà hứng chí bán hết tài sản dắt díu vợ con vào cái vùng Tứ giác Long Xuyên này mua đất khai hoang trồng lúa. Ngày tui đi, bạn bè bảo tui là “thằng khùng”, hẹn 10 năm sau gặp nhau xem sống chết thế nào. Vô tới đây, vợ tui nhìn cánh đồng phèn chua, nước mặn khóc đến ngất xỉu”, Sáu Đức nhớ lại cái ngày trở thành “ông khùng” đi làm “chúa đất”.

Phải làm ăn lớn

Sáu Đức (Nguyễn Lợi Đức, xã Lương An Trà, An Giang) đích thị là dân “đấu ao”. Những năm 80, 90 của thế kỷ trước, anh và đám bạn trai tráng sang tận Campuchia, tới cả Bộ Thủy sản của nước bạn để “đấu ao” quầng đăng nuôi cá. “Cá bên đó nhiều lắm chú ơi. Mỗi lần thu hoạch cá, phải chở bằng xà lan về Việt Nam tiêu thụ. Lời dữ lắm”, Sáu Đức kể. Vậy mà chẳng hiểu “ma đưa lối, quỷ dẫn đường” thế nào anh về bàn với “bà Sáu” (Sáu Đức hay gọi vợ như thế) bán hết tài sản lội vô xã kinh tế mới Lương An Trà mua đất khai hoang. “Tui vô vùng này mua đất để khai hoang vào năm 1997. Lúc đó, vùng này đất hoang hóa nhiều lắm. Bà con đi kinh tế mới đến đây nhận đất để khai hoang trồng lúa 10 người thì hết 9 người rưỡi làm ăn thất bại, chán nản bỏ đi tứ tán”, ông Sáu kể.

"Chúa đất" Sáu Đức kiểm tra lúa đang trổ đồng vụ đông - xuân 2009. Ảnh: Cửu Long.

Khai hoang muộn, ông Sáu phải lội vô sâu trong đồng mua những khoảnh đất lớn khai hoang với giá 700.000 đồng một công để tính chuyện “làm ăn lớn”. “Tui nghĩ đã làm nông thì phải làm kiểu nông trang mới phát triển kinh tế được”, ông Sáu nhăn trán nói.

Có được đất, Sáu Đức sắm ngay chiếc máy cày cũ của Liên Xô rồi thuê nhân công đốt cỏ, nhổ gốc tràm, ban gò, lấp lung… san nền ruộng chuẩn bị trồng lúa. “Cực chẳng khác gì con trâu chú ơi. Tờ mờ sáng tui phải mò ra đồng, tối mù, tối mịt mới về đến nhà. Chiếc máy cày cũ còn xục xịch hư lên, hư xuống chứ tui quyết mình không được ngả bệnh. Mất 7 - 8 năm đầu tư đất hoang hóa tốn biết bao công sức, tiền của mới thành đất thuộc”, Sáu Đức nhớ lại.

Cơ giới hóa

Nếu ở An Giang có “ông khùng” Sáu Đức thì ở Kiên Giang cũng có “ông khùng” Út Phải (Lê Văn Phải). Khác với Sáu Đức, Út Phải là dân địa phương. Ông Út kể, sau Giải phóng (1975), theo phong trào kinh tế mới khai phá vùng Tứ giác Long Xuyên, gia đình ông bắt đầu đẩy mạnh việc khai hoang. Có vài con trâu, ông chọn những lung có nước lợ khai hoang làm lúa trước. Tuy nhiên, Út Phải cũng là nông dân biết tính chuyện “làm ăn lớn”. Nhưng rồi thấy vài con trâu thì biết khai hoang đến chừng nào, ông bàn với anh em trong gia đình bán hết trâu, bò, heo để mua chiếc máy cày “khai hoang làm ruộng cho đã”. “Tui phải làm công tác tư tưởng lắm mấy anh em trong gia đình mới chịu hùn mua máy cày”, ông Út cười khà khà.

Khi đem máy cày về mấy ông nông dân địa phương “bật ngửa” bảo Út Phải “khùng quá xá”, lỡ khai hoang thất bại trâu, bò còn mổ thịt đem ra chợ bán được chứ máy cày bán ai mua. “Khai hoang lúc ấy cực lắm, phải lắng nước phèn mà uống để chiến đấu với đất phèn chua”, Út phải kể.

Tôi hỏi Sáu Đức sau bao nhiêu năm bỏ công khai hoang bây giờ có bao nhiêu công đất thuộc? Ông cười rồi nói lãng: “Vụ này (đông - xuân) tui làm có 700 công đất à chú ơi”. Thế nhưng trước khi tiếp chuyện Sáu Đức, con gái ông cho tôi biết “ba làm hơn 1.000 công” và “ba định qua tết mua thêm 700 công đất nữa”. Sáu Đức bật mí xã Lương An Trà vẫn còn vài trăm ha đất trồng tràm. “Nếu tui được nhận số đất ấy mà khai hoang làm nông trang thì còn gì bằng”, ông cười nói.

Trong khi đó, Út Phải cũng cho biết mình còn 400 công đất. Số đất còn lại (khoảng vài trăm công) ông chia đều cho 5 người con để “chạy hạn điền”.

Với trung bình 30 triệu đồng mỗi công đất như hiện nay ở Tứ giác Long Xuyên thì mấy nông dân này xứng danh là “chúa đất miền Tây”.

Tứ giác Long Xuyên thuộc ĐBSCL, trên địa phận của ba tỉnh thành Kiên Giang, An Giang và Cần Thơ, diện tích tự nhiên khoảng 489.000 ha. Mùa lũ (tháng 7 - 12), vùng này thường ngập 0,5 - 2,5m; mùa khô thường bị bị nước mặn thâm nhập. Chương trình thủy lợi thoát lũ qua biển Tây của Chính phủ phần nào giải quyết tình trạng ngập lũ và đất bị nhiễm mặn của vùng này. Những năm 1988 -1989, các tỉnh đã mở bước đột phá khai thác tiềm năng vùng đất hoang hóa, nhiễm phèn nặng, ít người lui tới này. Nhiều người là nông dân, cán bộ, đảng viên đã “xâm mình” quyết dấn thân với mảnh đất “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội tựa bánh canh”, góp phần xây dựng nên diện mạo mới của vùng Tứ giác Long Xuyên ngày nay.


Cửu Long
Nguồn: http://www.baodatviet.vn/Home/congdongviet/Chua-dat-mien-Tay-ky-1/20101/78321.datviet

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2010

Người đưa lúa lai vào Việt Nam

LUAGAO - Ai đưa cây lúa lai vào đồng ruộng Việt Nam? Ngược thời gian, chúng tôi cho rằng - đó là cựu Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Nguyễn Công Tạn, sau này là Phó Thủ tướng Chính phủ, phụ trách lĩnh vực nông nghiệp trong giai đoạn 1997-2002.

Nghỉ hưu đã 7 năm, ở tuổi 76, mái tóc bạc trắng, nhưng ông Nguyễn Công Tạn vẫn phong độ, dáng đi nhanh nhẹn, ánh mắt tinh anh, giọng nói sang sảng.

Ông Nguyễn Công Tạn thăm sản xuất lúa lai ở Nam Định

Sau mươi phút chuyện trò tại sân bay Nội Bài, chuyến máy bay đi Huế cất cánh trước, ông chia tay và mời tôi sau chuyến đi An Giang về, ghé xuống trường Đại học Thành Tây, ông muốn giới thiệu về cây Jatropha và một số mô hình công nghệ cao của trường, nơi ông đang làm chủ tịch HĐQT.

Nhờ cơ duyên ấy, ngày đầu năm 2010, tôi xuống trường ĐH Thành Tây thăm ông. Hoá ra tôi và ông lại là người cùng quê, tôi là con dâu quê lúa Thái Bình, còn ông sinh ra ở ở xã Thái Sơn, huyện Thái Thuỵ, đường về quê ông phải qua Châu Giang huyện Đông Hưng quê tôi.

Trong buổi trò chuyện này, tôi hỏi ông về những năm tháng đầu của thời kỳ đất nước đổi mới, trong đó có ngành nông nghiệp. Những năm tháng ông làm Bộ trưởng từ 1987-1997, một thời kỳ mà hầu như mưa thuận gió hoà, năm nào cũng được mùa, ít khi thất bát, để rồi ngành nông nghiệp Việt Nam chuyển từ vị thế của nước thiếu đói phải nhận viện trợ nước ngoài, sang tự túc đảm bảo an ninh lương thực, xoá bỏ sổ cung cấp lương thực cho dân, trở thành cường quốc xuất khẩu gạo trên thế giới. Ông Nguyễn Công Tạn nói:

- Khoán 10 chính là động lực thúc đẩy cho ngành sản xuất nông nghiệp của cả nước phát triển. Nhưng trong nông nghiệp sau tiến bộ chuyển vụ lúa xuân thì năng suất lúa Việt Nam vẫn chưa cao, dân vẫn thiếu lương thực, nhất là miền Bắc dân đông ruộng đất ít. Là Bộ trưởng vừa phải lo chỉ đạo sản xuất vừa phải lo điều hành lương thực trong cả nước, tôi nhận thấy giải pháp chuyển gạo từ miền Nam ra miền Bắc, chỉ là tình thế. Hồi đó đường sá giao thông còn khó khăn, chuyển được hạt gạo từ Nam ra, cõng nửa tiền tàu xe. Rồi kèm theo vấn đề an ninh lương thực, sự chênh lệch sản xuất giữa hai miền, làm sao tránh khỏi những kẽ hở trong buôn bán kinh doanh. Cứ nhìn cảnh nhân dân phải xếp hàng đong gạo theo tem phiếu, phải ăn độn ngô khoai, thì làm sao có thể tạo nên công cuộc đổi mới. Muốn đổi mới phải đảm bảo an ninh lương thực cho từng vùng và cả nước. Các cụ xưa có câu “Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ”. Vậy là vấn đề lâu dài, có tính chiến lược, miền Bắc phải sản xuất đủ lương thực, vựa lúa miền Nam chỉ dành cho xuất khẩu. Thế nhưng nhìn lại bộ giống trên đồng ruộng nhất là phía Bắc, ngoài lúa xuân NN8, DT10, hầu hết là các giống cũ của địa phương năng suất thấp, chống chịu sâu bệnh, úng hạn kém. Nhìn ra nước bạn Trung Quốc, họ đã tạo nên bước nhảy vọt trong sản xuất nông nghiệp nhờ lúa lai. Tôi từng là lưu học sinh, năm 1958 đã tốt nghiệp đại học tại Học viện Hoa Nam, Trung Quốc, năm 1964 - 1966 lại làm thực tập sinh khoa học ở Hàng Châu, nên tôi hiểu rõ các thành tựu về lúa lai của Trung Quốc và có nhiều bạn bè có thể giúp trong lĩnh vực này.

Lúa lai là một loại cây lương thực chính và cung cấp lương thực cho hơn một nửa dân số thế giới. Người ta ước tính đến năm 2030 sản lượng lúa của thế giới phải tăng thêm 60% so với sản lượng năm 1995. Trung Quốc tập trung phát triển các giống siêu thế hệ thứ hai với mục tiêu đạt năng suất 12 tấn/ha khi đưa vào sản xuất đại trà. Năm 2007 đã phủ diện tích tới 15,8 triệu ha chiếm 53,4% diện tích lúa toàn Trung Quốc, được coi như cuộc cách mạng xanh của thế giới lần thứ hai. Hiện có tới 40 quốc gia trên thế giới sản xuất lúa lai.

Từ câu chuyện lúa lai Trung Quốc nhìn sang Việt Nam, tôi thấy không thể không phát triển sản xuất lúa lai. Ở miền Bắc, đất nông nghiệp không nhiều, nhưng nông dân cần cù lao động và có nhiều kinh nghiệm thâm canh. Hồi chiến tranh đã có tỉnh đạt 5 tấn/ha như Thái Bình, nếu đưa lúa lai vào đồng ruộng có thể tạo nên một bước ngoặt lớn, đẩy nhanh sản lượng lúa của miền Bắc. Thế là chương trình sản xuất thử lúa lai ra đời, rồi sản xuất hạt lai, đào tạo những cán bộ khoa học chuyên sâu về sản xuất lúa lai. Không phải tới năm 1987, tôi làm Bộ trưởng Nông nghiệp, lúa lai mới được đưa vào đồng ruộng Việt Nam, trước đó năm 1985, khi là Phó chủ tịch UBND TP Hà Nội, tôi đã mời chuyên gia Trung Quốc ở Viện lúa Viên Long Bình và chuyên gia tỉnh Phúc Kiến, sang hướng dẫn sản xuất lúa lai tại huyện Đan Phượng. Khi cây lúa lai đã bén rễ trên đồng ruộng Việt Nam, tôi tính chuyện bên cạnh nhập giống phải sản xuất hạt lai.

Nhớ lại chuyện sản xuất lúa lai, cũng lắm chuyện buồn vui. Có lần chỉ đạo sản xuất hạt lai tại huyện Ứng Hoà, sản xuất thành công nhưng dân gặt trộm không trả thóc giống, tôi phải bỏ tiền túi để đền cho nông dân 200 triệu và chuyên gia 100 triệu đồng. Khi làm Bộ trưởng tôi đã cử một số cán bộ sang Trung Quốc học làm lúa lai, trong số đó có PGS.TS Nguyễn Thị Trâm là học trò của tôi đã thành công trong việc sản xuất lúa lai tại Việt Nam làm nên kỷ lục bán bản quyền 10 tỷ giống lúa lai TH3-3 và tôi được tác giả giống tặng 10 triệu đồng vì ghi nhớ công ơn của thầy.

NGHIÊM THỊ HẰNG

Nguồn: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/45/45/45/44975/Default.aspx

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2010

Lúa gạo và giải pháp phát triển bền vững

LUAGAO - Thành tựu nổi bật nhất về kinh tế Việt Nam trong hơn 20 năm đổi mới là phát triển nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực đã đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, đảm bảo dự trữ quốc gia và xuất khẩu gạo nhiều năm liền đứng hàng thứ 2 thế giới. Tuy nhiên, nhìn chung sản xuất nông nghiệp vẫn còn nhiều bất cập, nông dân gặp nhiều rủi ro, thách thức như: thiên tai, dịch bệnh, tổ chức sản xuất còn nhỏ lẻ, liên kiết “4 nhà” còn yếu kém, khâu tiêu thụ luôn gặp khó khăn…

Do đó, rất cần có những giải pháp phát triển nông nghiệp ổn định và bền vững, nhằm đảm bảo ANLT Quốc gia trong thời kỳ CNH-HĐH và nguy cơ ảnh hưởng do biến đổi khí hậu hiện nay.

ĐBSCL có tổng diện tích khoảng 3,96 triệu ha, phần lớn là đất nông nghiệp, trong đó đất trồng lúa là 1,85 triệu ha. Toàn vùng hiện có hơn 18 triệu người, trong đó gần 80% dân số sống ở nông thôn và làm nông nghiệp, chủ yếu là sản xuất lúa, nuôi trồng thủy sản và cây ăn trái… Trong những năm qua, nhờ làm tốt công tác khai hoang, thủy lợi đã mở rộng diện tích trồng lúa, công tác nghiên cứu giống, công tác khuyến nông… đã giúp ĐBSCL nâng sản lượng lúa từ 4,2 triệu tấn năm 1976 lên trên 21 triệu tấn vào năm 2009. Thành quả đó đã góp phần quan trọng vào ANLT Quốc gia và chiếm tỷ trọng trên 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, nhu cầu về lúa gạo nhiều hơn, đa dạng hơn, tạo thị trường tiêu thụ rộng rãi hơn.

Có thể nói, cây lúa không chỉ là cây trồng chủ lực của ĐBSCL mà còn là cây đảm bảo an ninh lương thực Quốc gia và cung cấp lúa gạo cho thị trường thế giới. Thành tựu cơ bản trong sản xuất lúa gạo của Việt Nam trong các năm qua nhờ vào các yếu tố như: nghiên cứu cải tiến giống lúa, thay đổi từ giống lúa mùa một vụ năng suất thấp (1,5-2 tấn/ha) sang các giống cao sản chất lượng cao (6-8 tấn/ha), ngắn ngày (85-100 ngày) nên dễ dàng tăng vụ (2-3 vụ/năm), từ đó làm tăng sản lượng. Công tác đầu tư thủy lợi, xả phèn rửa mặn, cải tạo đất hoang hóa, chủ động tưới tiêu, tạo tiền đề cho các giống lúa thích nghi phát triển, nhờ đó diện tích gieo trồng được mở rộng.

Tuy nhiên, để góp phần thực hiện tốt hơn nữa tinh thần Nghị quyết 26 của Trung ương và chiến lược đến năm 2030 của Chính phủ về vấn đề ANLT, duy trì diện tích sản xuất lúa, tăng thu nhập cho nông dân trong bối cảnh do tác động của hội nhập, đô thị hóa làm mất đất sản xuất, cạnh tranh khốc liệt về thị trường, rủi ro cao do dịch bệnh và thay đổi khí hậu… cần có giải pháp thích hợp trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo. Riêng đối với cây lúa ở ĐBSCL thì giải pháp “liên kết vùng và tham gia 4 nhà” là hết sức quan trọng. Việc liên kết này sẽ giúp thực thi các kế hoạch, chiến lược sản xuất lúa và ANLT đến tận địa phương. Qua đó, tìm sự đồng thuận không những từ nguồn lực nhà nước mà của cả xã hội để sản xuất và tiêu thụ, nhằm làm tăng thu nhập cho nông dân. Thông qua sự liên kết và tham gia này thì hoạt động sẽ trở thành hệ thống, từ đó giúp Chính phủ đưa ra những chính sách và cơ chế phù hợp để phát triển lúa gạo.

Trước tiên là liên kết các đơn vị nghiên cứu khoa học như Viện/Trường để ứng dụng nhanh các giải pháp khoa học công nghệ trong chọn tạo giống nhằm tìm ra giống lúa cho năng suất cao, ổn định, phẩm chất gạo tốt, kháng sâu bệnh, nhất là rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, đạo ôn và thích nghi điều kiện tiểu vùng sinh thái và thay đổi khí hậu toàn cầu. Đẩy mạnh chuyển giao các giải pháp kỹ thuật sản xuất lúa thích ứng cho hội nhập kinh tế và sự biến đổi khí hậu, áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ cao trong sản xuất lúa để đạt năng suất cao, phẩm chất tốt, nâng cao giá trị sản phẩm và lợi nhuận cho nông dân. Phát triển các dạng hình kinh tế hợp tác để thuận lợi cho đầu tư, sản xuất hàng hóa đủ lớn, dễ dàng tiếp cận thị trường và đảm bảo đầu ra, trong đó liên kết “4 nhà” là khâu mấu chốt cần được quan tâm hàng đầu. Nâng cao năng lực sản xuất và cạnh tranh lúa gạo vùng ĐBSCL từ khâu dịch vụ đầu vào, tổ chức sản xuất, bảo quản tồn trữ, chế biến và tiêu thụ lúa gạo, trong đó tổ chức liên kết nông dân trong chuỗi cung ứng lúa gạo và xây dựng thương hiệu cần được đặc biệt chú ý.

Tóm lại, ngoài việc đầu tư về cơ sở hạ tầng, cải thiện an sinh xã hội nông thôn, quy hoạch lại đất đai trong sản xuất nông nghiệp, chính sách cho nông dân, đặc biệt là người trồng lúa, đào tạo nhân lực cho ngành nông nghiệp (cả trong nghiên cứu, quản lý và sản xuất)… cần có chiến lược lâu dài cho việc sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, trong đó cần có sự liên kết vùng và liên kết “4 nhà”, mỗi nhà cần được phân vai cụ thể, nếu vai nào cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình thì công tác sản xuất lúa gạo mới đi vào ổn định và phát triển.

Kế hoạch sản xuất và tiêu thụ lúa gạo Việt Nam đến năm 2020

TT

Chỉ tiêu

2010

2015

2020

1

Dân số (triệu người)

88,5

93,5

100

2

Đất lúa (triệu ha)

4,0

3,8

3,6

3

Diện tích gieo trồng

7,1

6,9

6,8

4

Sản lượng (triệu tấn)

36,5

37,2

38,5

5

Nhu cầu (triệu tấn)

31,1

32,1

35,2

6

Cân đối

5,4

5,1

3,3

7

Xuất khẩu (dự kiến)

3,5

3,3

3,1



TS. Lê Văn Bảnh

Nguồn: http://nongnghiep.vn/NongnghiepVN/vi-VN/61/158/2/2/2/44401/Default.aspx