Thứ Ba, 3 tháng 2, 2009

Một công cụ mới diệt trừ rầy nâu hữu hiệu

Rầy nâu (RN) là mối đe dọa thường trực đối với ngành sản xuất lúa gạo ở ĐBSCL, một vùng trồng lúa quan trọng của cả nước. Một trong những đặc điểm sinh học cơ bản của RN là chúng sống dưới gốc lúa và chích hút nhựa ở bẹ lá lúa, nên với những loại bình bơm phổ biến hiện nay rất khó có thể phun xịt đến tận gốc để diệt rầy.
Mới đây có một loại công cụ khác có thể giúp cải thiện tình hình để diệt RN đúng cách. Đó là “xe phun xịt dung dịch” của anh Phạm Hòang Thắng, giám đốc Doanh nghiệp nhựa Hòang Thắng, dùng để áp dụng thuốc trừ sâu bệnh, diệt cỏ, phân bón lá và các dung dịch tương tự trên ruộng cây trồng. Những điểm khác biệt cơ bản của xe phun xịt này với các bình phun thuốc đeo vai thông thường hiện nay là: xe phun xịt được di chuyển trên hai bánh xe chứ không phải đeo trên vai; áp suất trong bình phun được tạo ra từ hệ thống pít- tông bởi quá trình di chuyển của hai bánh xe liên kết với phần trục khuỷu của trục bánh xe nhờ một hệ thống tay đòn; khi kéo xe đi phun, người sử dụng đi phía trước nên giảm thiểu tối đa sự tiếp xúc với chất hóa học độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe con người.Tuy nhiên từ khi được công nhận đến nay đã trên 2 năm, xe phun xịt vẫn chưa đi vào cuộc sống phục vụ sản xuất một cách thiết thực. Sau khi quan sát, một số chuyên gia trong ngành đã đề xuất một số cải tiến để hoàn thiện công cụ này. Các cải tiến mới như: Thay giàn bơm áp suất hoạt động bởi bánh xe bằng một động cơ xăng mini hiệu Honda 1 mã lực với mức tiêu hao nhiên liệu 1 lít xăng cho 4 giờ hoạt động. Kế đến là lắp đặt hệ thống theo dõi và điều chỉnh áp suất trong bình phun. Sau nữa là các ống vòi phun được bố trí nghiêng xuôi ra phía sau, luồn xuống dưới gốc lúa để phun trực tiếp lên khu vực sinh sống của quần thể rầy nâu. Hiện nay mẫu máy cuối cùng có các đặc điểm sau: Chiều dài máy từ trước ra sau 1,7 m; chiều cao 1,2 m; trọng lượng máy 27 kg; thùng chứa dung dịch 34 lít có thể phun cho 1.000 m2; chiều rộng giữa hai bánh xe 1,4 m; chiều ngang giàn phun 5m; khoảng cách giữa các ống gắn béc là 0,5 m . Ưu điểm cơ bản của công cụ này là cho phép điều chỉnh độ cao vòi phun rà sát tận gốc lúa để diệt rầy mà không bị vướng do cây lúa cao, rậm rạp. Áp suất cao được tạo ra bởi động cơ nên những giọt thuốc được trải nhuyễn, mịn, đều và có thể điều chỉnh theo ý muốn. Với công cụ phun tận gốc này nông dân có thể đảm bảo việc phun đúng cách vào giai đoạn 40- 45 ngày sau sạ nếu trong ruộng có khoảng 3 con rầy/tép lúa nhằm bảo vệ lúa không bị cháy rầy, kết hợp với ba nguyên tắc đúng đắn còn lại như: đúng loại thuốc (nếu chỉ chống lột xác thì dùng nhóm buprofezin) để diệt cả rầy non và rầy trưởng thành, thuốc vừa có tính tiếp xúc, vị độc và cả lưu dẫn thì dùng một trong những hoạt chất thuộc các nhóm như: fenobucarb, imidacloprid, benfuracarb, dinotefuran, clothianidin…; đúng liều lượng theo sự hướng dẫn ghi trên bao bì, cần lưu ý phun đủ lượng nước để thuốc được trải đều dưới gốc. Hy vọng công cụ mới này sẽ góp phần vào việc khống chế hữu hiệu rầy nâu, bảo vệ ruộng lúa cho bà con nông dân.
Quang Mẫn (Theo Tư liệu kiến thức nhà nông )

Vụ Lúa Đông Xuân 2008-2009: Nông Dân Trồng Lúa Sẽ Có Lãi

TT - Vụ lúa đông xuân nhiều nơi tại khu vực ĐBSCL đã xuống giống gần một tháng. Theo dự báo của các chuyên gia, nhiều khả năng vụ lúa năm nay nông dân sẽ thắng lớn cả về năng suất lẫn giá cả.
Trở lại vùng chuyên canh lúa chất lượng cao huyện Cai Lậy (Tiền Giang) những ngày cuối cùng của năm 2008, chúng tôi dễ dàng bắt gặp nụ cười của nông dân bên những cánh đồng lúa vừa gieo sạ được 20-30 ngày tuổi. Đưa chúng tôi đi xem cánh đồng lúa chất lượng cao an toàn của xã, ông Trương Văn Bảy ở ấp 5, xã Mỹ Thành Nam cho biết từ ngày gieo sạ tới nay, ngày nào cũng dành 2-3 giờ “khảo sát” đám ruộng và nhận thấy lúa đang phát triển rất tốt, không bị sâu bệnh. “Với đà phát triển như hiện nay, chắc chắn vụ đông xuân này bà con trồng lúa sẽ thắng lớn” - ông Bảy khẳng định.

Tập trung giống chất lượng cao

Theo ông Nguyễn Văn Khang - giám đốc Sở NN&PTNT Tiền Giang, sau “sự cố” lúa IR 50404 tồn đọng bán không được, từ vụ đông xuân này nông dân đã quay sang trồng lúa chất lượng cao và lúa thơm. Hiện toàn tỉnh có tới 50% diện tích trồng lúa hạt dài, chất lượng cao, 30% trồng lúa thơm và chỉ 20% lúa thường (chủ yếu là IR 50404). Tương tự, các tỉnh trong khu vực ĐBSCL lúa chất lượng cao và lúa thơm vụ đông xuân này cũng chiếm 70-80% diện tích.
Theo chỉ đạo của Bộ NN&PTNT, hiện nay các địa phương đang cố gắng giúp nông dân giảm chi phí đầu tư sản xuất lúa để nâng cao lợi nhuận. Nếu như vụ hè thu 2008 chi phí đầu tư sản xuất lúa lên tới 3.000 đồng/kg, thì vụ này Tiền Giang và các tỉnh ĐBSCL phấn đấu kéo giảm còn 1.700-2.000 đồng/kg. Do giá phân bón hiện đang giảm mạnh nên khả năng chi phí đầu vào sẽ còn giảm.
Ông Khang cho biết trong hội nghị về lương thực mới đây, Hiệp hội Lương thực VN đã cam kết với Thủ tướng là vụ đông xuân này các doanh nghiệp (DN) sẽ phấn đấu mua lúa hạt dài, chất lượng cao của nông dân với giá 3.500-4.000 đồng/kg. Do đó, nếu năng suất trung bình 6 tấn/ha, giá lúa 3.500 đồng/kg, trừ chi phí đầu tư là 2.000 đồng/kg thì nông dân sẽ thu lãi khoảng 9 triệu đồng/ha. Nếu giảm thất thoát sau thu hoạch và tiết kiệm chi phí sản xuất nhiều hơn nữa thì lãi sẽ còn cao hơn. Đặc biệt, đối với những hộ trồng lúa thơm thì tiền lãi chắc chắn sẽ rất cao. Ông Nguyễn Văn Đồ ở xã Mỹ Thành Nam tính toán: “Lúa thơm hiện nay khoảng 7.000 đồng/kg. Với năng suất 6 tấn/ha và trừ phi phí đầu tư tối đa 3.000 đồng/kg, nông dân sẽ thu lãi tới 24 triệu đồng/ha”.
Giá lúa sẽ tăng

Trao đổi với Tuổi Trẻ ngày 31-12-2008, một lãnh đạo Công ty Lương thực Long An cho biết mặc dù hiện nay giá gạo trên thị trường thế giới vẫn còn ở mức thấp, nhưng với những tín hiệu khả quan về tiêu thụ cho thấy trong những tháng đầu năm 2009 giá lúa gạo sẽ tăng. “Hiện nay nhiều DN vẫn xuất khẩu gạo, nhưng lượng xuất sẽ tăng nhiều trong những tháng đầu năm 2009. Trong đó, riêng tháng 1-2009 sẽ xuất khoảng 120.000 tấn gạo 5% tấm sang thị trường Iraq, tháng 2-2009 sẽ xuất một lượng đáng kể sang thị trường châu Phi” - vị lãnh đạo này tiết lộ.
Thị trường lúa gạo ĐBSCL trong những ngày cuối năm 2008 cũng rất sôi động. Một số địa phương như Long An, Bạc Liêu... đã bắt đầu thu hoạch lúa thu đông gặp ngay lúc các DN đang thu mua gạo tạm trữ (Thủ tướng chỉ đạo mua 1 triệu tấn lúa, tương đương 500.000 tấn gạo đến hết tháng 2-2009), nên lúa thu hoạch bao nhiêu đều được tiêu thụ hết bấy nhiêu.
Hiện nay do được vay vốn với lãi suất ưu đãi nên các DN đang đẩy mạnh thu mua gạo của thương lái để tạm trữ. Bên cạnh đó, thị trường nội địa dịp tết này cũng gia tăng mức tiêu thụ, nên giá lúa gạo trong nước cũng đang ở mức khá cao so với cách đây vài ba tháng. Giá lúa mới thu hoạch (chưa đạt tiêu chuẩn độ ẩm) được thương lái thu mua với giá 3.000-3.500 đồng/kg tùy loại lúa thường hay hạt dài. Với giá này nông dân đã có lãi chút đỉnh chứ không bị lỗ như lúc lúa gạo tồn đọng vài tháng trước.
Một số DN xuất khẩu cho biết năm nay vụ đông xuân sẽ thu hoạch muộn khoảng một tháng. Phải đến tháng 3-2009 các tỉnh ĐBSCL mới thu hoạch rộ. Trong khi đó từ tháng 1 đến tháng 2-2009 nhu cầu tiêu thụ lúa gạo hạt dài, chất lượng cao để chế biến gạo 5% tấm cho xuất khẩu khá lớn. Dự báo thời điểm giáp hạt từ tháng 2 đến tháng 3-2009 sẽ khan hiếm lúa gạo loại này, nên chắc chắn giá sẽ tăng cao. Tuy nhiên, từ tháng 3-2009 trở đi tình hình tiêu thụ và xuất khẩu ra sao thì chưa có DN nào tiên lượng được. Tuy vậy, nhiều người vẫn khẳng định họ rất tin tưởng trong năm 2009, đặc biệt là vụ đông xuân này sẽ thắng cả về năng suất lẫn giá cả.
TS LÊ VĂN BẢNH (viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL):
Đảm bảo người trồng lúa có lãi trên 30%
Vụ đông xuân 2008-2009, ĐBSCL đã xuống giống 1,5 triệu ha. Hiện trà lúa ở các tỉnh đều phát triển tốt, tình hình sâu bệnh và dịch vàng lùn - lùn xoắn lá giảm hẳn so với các niên vụ trước trong khi giá vật tư, phân bón đều hạ nhiệt. Dự báo vụ đông xuân năm nay sẽ trúng mùa, sản lượng lúa thu hoạch sẽ không dưới 10 triệu tấn.
Trong khi đó, tình hình lúa gạo trên thị trường thế giới đang khả quan hơn do các nước tăng mua dự trữ, chính sách kích cầu ngăn chặn khủng hoảng kinh tế được nhiều nước trên thế giới áp dụng, nạn đói châu Phi tiếp tục căng thẳng nên nhu cầu nhập gạo sẽ tăng cao. Riêng thị trường trong nước, Chính phủ tiếp tục cam kết thu mua lúa cho dân, đẩy mạnh xuất khẩu sang các nước Philippines, Iraq, châu Phi, Indonesia... đảm bảo cho người trồng lúa có lời tối thiểu 30%.(H.T.DŨNG - M.GIẢNG ghi)
VÂN TRƯỜNG

Vấn đề phát triển giống lúa lai ở Việt Nam

Những năm qua, cây lúa lai đã trở thành một trong những giống lúa cho năng suất và hiệu quả khá cao được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xây dựng thành chương trình phát triển 1 triệu ha lúa lai vào năm 2010. Để đạt mục tiêu này đòi hỏi phải có một sự nỗ lực rất cao của ngành nông nghiệp cũng như chính quyền các địa phương. Nhưng xung quanh việc đưa cây lúa lai vào trồng còn nhiều vấn đề cần phải bàn tới, đó là trình trạng một số giống lúa lai không có hạt. Mặc dù, quy trình khảo nghiệm giống lúa lai mới khá cụ thể và rõ ràng nhưng việc xảy ra những sai sót không đáng có trong khâu giống đã đặt ra phải có sự kiểm nghiệm chặt chẽ hơn. Một thực tế cho thấy hiện nay là, đa số các giống lúa lai đang được trồng ở Việt Nam là những giống lúa được nhập nhẩu từ Trung Quốc. Hàng năm, chúng ta vẫn phải nhập trên 80% lúa giống F1 từ Trung Quốc về sản xuất tại Việt Nam gọi là lúa lai thương phẩm, với các tên giống lúa lai hiện đang cho năng suất cao như Khang Dân, Hải Phong, Q1, Q5.. Chính điều đó đã cho thấy sự mất tự chủ của chúng ta trong khâu giống. Theo báo cáo của Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trong số 55 giống lúa lai 3 dòng mà Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng Trung ương tiến hành khảo nghiệm chỉ vẻn vẹn… có 2 giống của Việt Nam, còn là của Trung Quốc. Do không chủ động được giống, nên tuy Bộ đề ra kế hoạch sản xuất hạt lai F1 trong vụ đông xuân vừa qua là 1.500 ha, nhưng các địa phương chỉ sản xuất được trên 1.200 ha. Việc phụ thuộc vào các giống lúa lai Trung Quốc đã khiến cho nhiều địa phương không thể chủ động được kế hoạch sản xuất cũng như ổn định về chất lượng giống. Do các giống lúa lai thường có ưu điểm là ngắn ngày, năng suất cao nhưng có nhược điểm là khả năng chống chịu sâu bệnh kém, đòi hỏi qui trình chăm sóc rất nghiêm ngặt. Do vậy, khâu khảo nghiệm đòi hỏi ngành nông nghiệp và các địa phương cần phải đưa vào sản xuất thử, nếu đạt yêu cầu mới đem ra trồng đại trà. Điển hình như Nghệ An trong những năm qua rất quan tâm, chú trọng chọn cây lúa lai để phát triển nhằm nâng cao năng suất và thu nhập. Mặc dù kết quả khả quan nhưng việc nhầm lẫn để xảy ra tình trạng lúa lai không hạt luôn là bài học đắt giá với những người làm nông nghiệp của tỉnh. Do vậy, vụ chiêm xuân năm nay đã là năm thứ 3 triển khai giống lúa lai Q1, tỉnh Nghệ An vẫn tiếp tục cho trồng khảo nghiệm trên diện tích của 29 xã thuộc nhiều vùng khí hậu khác nhau từ miền núi đến các xã vùng biển. Với mục đích nhằm có được kết luận chính xác, trung thực nhất khi xin phép Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho công nhận là giống chuẩn quốc gia. Vào đầu tháng 5 vừa qua, tại hội nghị đầu bờ của Cục trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chính quyền địa phương tỉnh cùng với đơn vị cung cấp giống đã có nhiều ý kiến đánh giá về cây lúa lai mà cụ thể là giống lúa lai F1. Đây là gống lúa lai có thời gian sinh trưởng ngắn hơn so với giống lúa khác từ 5- 10 ngày. Chính ưu điểm này có thể tránh được lũ, bão sớm. Theo đánh giá của bà con nông dân năng suất của giống lúa lai này có thể cho từ 8 - 10 tấn/ha. Trong quá trình sinh trưởng và phát triển giống lúa lai F1 có thể kháng được rầy và bệnh đạo ôn cao, đặc biệt tránh được bệnh bạc lá, một căn bệnh chung của các giống lúa lai khi được trồng tại Việt Nam. Mặc dù, hiệu quả kinh tế của cây lúa lai đã rõ ràng, nhưng việc bao giờ chủ động được giống lúa lai vẫn đang là bài toán đặt ra với ngành nông nghiệp Việt Nam. Các Viện Nghiên cứu lúa của chúng ta mặc dù vẫn hoạt động, nhưng hiệu quả thực sự vẫn còn xa với yêu cầu thực tế. Nếu đem so sánh lực lương nghiên cứu của Trung Quốc sẽ thấy họ có khoảng 500 cán bộ nghiên cứu trong khi đó Việt Nam có chưa đầy 50 cán bộ. Hàng năm, Trung Quốc được hỗ trợ kinh phí của nhà nước tới hàng triệu đô la để tìm giống lúa mới thì ở Việt Nam con số này là rất thấp. Để khắc phục tình trạng không chủ động được về giống lúa lai, hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã trình Chính phủ một phương án “dài hơi”, đó là mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực làm công tác nghiên cứu. Bên cạnh đó, kêu gọi liên kết hợp tác với các chuyên gia Trung Quốc, hay các chuyên gia nước khác để sản xất ra giống lúa bố mẹ ngay tại Việt Nam. Vừa qua, Công ty giống Trùng Khánh của Trung Quốc đã có những chuyến khảo sát tại Nghệ An, với mong muốn chọn địa điểm và tìm đối tác để hợp tác xây dựng một trại nghiên cứu chọn tạo giống lúa tại Việt Nam. Nếu đi vào hoạt động phía tỉnh Nghệ An sẽ cung cấp đất đai, con người và tài chính, còn phía Trùng Khánh chuyển giao công nghệ, gửi chuyên gia để cùng nhau xây dựng trại giống. Theo ý kiến của lãnh đạo Công ty, Trùng Khánh khẳng định nếu giống lúa lai được nghiên cứu chọn tạo và sản xuất tại Việt Nam thì khả năng kháng chịu sâu bệnh chắc chắn sẽ cao hơn hiện tại, năng suất cũng sẽ cao hơn từ 2-4 tấn/ha. Để chương trình giống lúa lai phát triển bền vững, chương trình không những chỉ quan tâm đến nông dân được hưởng lợi mà còn đề cập đến các doanh nghiệp cũng được tham gia sản xuất giống lúa lai. Đây được coi là một bước đột phát thế độc quyền lâu nay khuyến nông chỉ làm với nông dân để sản xuất ra F1, sau đó các doanh nghiệp thu mua bán sang cho đơn vị khác, địa phương khác. Trong pháp lệnh giống cây trồng do Chủ tịch nước ký ngày 5/4/200 có khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức cá nhân sản xuất nông nghiệp sử dụng giống cây trồng mới có năng suất cao và chất lượng tốt đáp ứng yêu cầu thị trường. Và pháp lệnh cũng qui định rõ trách nhiện cụ thể của các Bộ, Ban, Ngành liên quan cùng chính quyền địa phương. Tuy nhiên, hiện tượng lúa lai kém chất lượng xảy ra trong thời gian qua ở một số địa phương cho thấy việc vi phạm pháp lệnh giống cây trồng vẫn còn là “rào cản” để những tiến bộ về lúa lai chưa đến được với bà con nông dân. Hy vọng rằng trong thời gian tới công tác chọn tạo giống của chúng ta sẽ được kiểm soát và khảo nghiệm một cách nghiêm túc hơn, tránh tình trạng thí nghiệm trên lưng bà con nông dân, cũng như phải giảm mục tiêu phát triển diện tích lúa lai từ 1 triệu ha/năm xuống còn hơn một nửa.
Nguồn: Tạp chí Nông thông mới, Số 179/20065