Thứ Ba, 31 tháng 5, 2011

PGS - TS NGUYỄN THỊ TRÂM - NGUYÊN PHÓ VIỆN TRƯỜNG VIỆN SINH HỌC NÔNG NGHIỆP

LUAGAO - Sinh ra và lớn lên ở thị xã Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên - người con của mảnh đất này đã dùng sự kiên trì đáng khâm phục của mình để góp phần mang lại những thành công lớn trong ngành nghiên cứu khoa học nước nhà. Đó là PGS - TS Nguyễn Thị Trâm nguyên giảng viên Trường ĐH Nông nghiệp, nguyên phó viện trường Viện Sinh học nông nghiệp.

Trở thành kỹ sư nông nghiệp năm 1968, PGS - TS Nguyễn Thị Trâm công tác tại Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm của Bộ Nông nghiệp cho đến năm 1980. Ở đây, với việc nghiên cứu chọn tạo giống lúa, cô đã cùng đồng nghiệp chọn tạo thành công các giống lúa như: NN8 -388, NN23, NN9, NN10, NN75-6. Tất cả các giống lúa này đều được đưa vào ứng dụng trong sản xuất, trong đó giống lúa NN75-6 đã đem lại cho cô bằng tác giả sáng chế năm 1984.
Trong thời gian đi nghiên cứu sinh ở nước ngoài trong 4 năm từ năm 1980 đến 1984 cô Trâm đã mang về tấm bằng góp thêm vào học vị của mình với việc thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu lúa lùn và sử dụng lúa lùn trong chọn tạo giống lúa thâm canh” tại Đại học Nông nghiệp Kuban và Viện Nghiên cứu Lúa toàn Liên Xô, Thành phố Kratsnodar ( Liên Xô cũ).

Sau khi về nước, trở thành Tiến sĩ Nông nghiệp PGS - TS Nguyễn Thị Trâm công tác tại trường Đại học Nông nghiệp 1. Cô làm cán bộ giảng dạy các bộ môn Di truyền – chọn giống Khoa Nông học của trường. Thời gian này cô Trâm đã cống hiến rất nhiều tâm lực của mình trong việc nghiên cứu, giảng dạy cũng như hướng dẫn các sinh viên làm đề tài tốt nghiệp. Trong số đó có rất nhiều tiến sĩ và thạc sĩ bảo vệ thành công luận án của mình và được tốt nghiệp với những tấm bằng loại ưu. Bên cạnh đó cô còn viết các giáo trình và sách tham khảo cùng giáo trình bài giảng cho cao học các chuyên ngành Trồng trọt, chọn giống. Cùng các đồng nghiệp, cô đã nghiên cứu chọn tạo thành công các giống lúa thuần như nếp thơm 44, tẻ 256, ĐH 104 và được đưa ra sản xuất.
Làm phó Viện trưởng viện sinh học Nông nghiệp và Trưởng phòng nghiên cứu ứng dụng ưu thế lai tại trường Đại học Nông Nghiệp 1 Hà Nội cho đến năm 2004 cô Trâm lĩnh sổ lương hưu trí. Sau khi nghỉ hưu cô vẫn muốn góp thêm sức lực và trí tuệ của mình để phục vụ cho ngành nghiên cứu khoa học nước nhà nên cô đã nhận lời mời tiếp tục làm Trưởng phòng Nghiên cứu ứng dụng ưu thế lai, và tiếp tục nghiên cứu để tạo ra các giống lúa mới. Viết thêm những tài liệu và giáo trình để phục vụ giảng dạy và hướng dẫn cho các học viên thực tập tốt nghiệp kiêm hướng dẫn nghiên cứu sinh…

Mười tỉ đồng, một giống lúa, và mười bảy năm nghiên cứu lúa lai. Nhìn cảnh cô Trâm đếm từng hạt lúa, bạn sẽ thấy 10 tỉ đồng chuyển giao công nghệ không hề nhiều. Trong chương trình Người đương thời, bạn sẽ được nghe cô Trâm tiết lộ bí quyết lúa lai của Việt nam. Và quan trọng hơn, bạn sẽ biết bí quyết thành công của cô: đó là đầu tư thời gian, và không bao giờ bỏ cuộc.

Thứ Hai, 30 tháng 5, 2011

Giống lúa lai C ưu đa hệ số 1

LUAGAO - C ưu đa hệ số 1 là loại giống lúa lai ba dòng mới do GS Tạ Sùng Hoa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lúa lai, Đại học KHKT Tây Nam (Trung Quốc) chọn tạo. Cty Giống cây trồng Tây Khoa (Tứ Xuyên) độc quyền sản xuất và kinh doanh. Cty TNHH Nông nghiệp Á Thái độc quyền cung ứng tại Việt Nam. Giống lúa này đã được tỉnh Tứ Xuyên công nhận là giống lúa lai số 138 và được bảo hộ bản quyền.

Theo Cty TNHH Nông nghiệp Á Thái, tổ hợp C ưu đa hệ số 1 có TGST vụ xuân 130 ngày, vụ mùa 110 ngày ở đồng bằng Bắc bộ VN. Cứng cây, lá đòng dài, đẻ nhánh khá; bông dài 27cm, khối lượng nghìn hạt 30g, cây cao 120cm, năng suất vụ xuân 76-84 tạ/ha, vụ mùa 68-73 tạ/ha, thâm canh cao có thể đạt 88-90 tạ/ha.

Tại Việt Nam, từ vụ xuân 2009 giống C ưu đa hệ số 1 đã được trồng khảo nghiệm tại một số tỉnh ĐBSH như Nam Định, Thái Bình, Hòa Bình. Ngày 8/10/2010 Cục Trồng trọt đã công nhận cho sản xuất thử. PGĐ Sở NN-PTNT Thái Bình, Trần Xuân Định cho biết kết quả khảo nghiệm sản xuất tại Tiền Hải cho thấy giống C ưu số 1 có tiềm năng năng suất cao nếu được đầu tư thâm canh đúng mức, tính chống chịu sâu bệnh khá. Thích nghi tốt với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng nơi tiến hành khảo nghiệm. Tuy nhiên nhược điểm là bản lá to, dài cần thâm canh cân đối bón tăng kali, bón tập trung sớm để phòng chống bạc lá và khô đầu lá. Đẻ nhánh mức trung bình cần chú ý mật độ khi cấy. PGĐ Sở NN-PTNT Hòa Bình, Trần Bảo Toàn có chung nhận xét: C ưu đa hệ số 1 vụ xuân có khả năng chống chịu sâu bệnh và sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất cao từ 80-85 tạ/ha, chất lượng gạo khá…

Theo khuyến cáo của Cty TNHH Nông nghiệp Á Thái, để đạt năng suất cao cần đảm bảo kỹ thuật gieo cấy, chăm sóc. Cụ thể lượng giống cho 1 sào Bắc bộ (360m2) là 1kg. Gieo trồng vụ mùa sớm và xuân muộn ở vùng đồng bằng, trung du miền núi Bắc bộ và Bắc Trung bộ trên chân đất tốt, chủ động nước. Thời vụ xuân muộn gieo từ 21/1-5/2, cấy trong tháng 2 (vùng Đông bắc gieo đầu tháng 3, cấy trước 5/4), mùa sớm gieo từ 5-10/6, cấy từ 20/6-5/7. Mật độ cấy 40 khóm/m2, cấy 1 dảnh; yêu cầu cấy nông tay.

Mọi chi tiết xin liên hệ Cty TNHH Nông nghiệp Á Thái. Địa chỉ: Ô 4, lô 4A, khu đô thị Đền Lừ, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Mai, Hà Nội. ĐT: 0436343141. DĐ: 0912091562. Fax: 0436343141

Nguồn: Báo NNVN