Thứ Tư, 11 tháng 2, 2009

Biện pháp phòng trừ bệnh bạc lá lúa

Thời kỳ từ khi lúa mùa đẻ nhánh đến trổ bông (từ tháng 8 đến đầu tháng 10), ở nước ta thường có mưa giông, bão lốc... dễ khiến cho bộ lá lúa bị sây sát hoặc giập nát, và đó sẽ là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn gây nhiễm bệnh bạc lá vi khuẩn cho lúa mùa nặng hơn.

Đặc điểm phát sinh và phát triển bệnh

Bệnh bạc lá vi khuẩn phát sinh ngay từ ruộng mạ trên phiến lá, nhưng biểu hiện bệnh rõ nhất là ở lá lúa khi cây lúa đẻ nhánh và phát triển đến giai đoạn lúa trổ bông, hạt chín sữa và đây là lúc bệnh gây hại mạnh nhất.Phiến lá bị khô trắng từng vệt từ chót lá hoặc từ mép lá. Khi bệnh nặng phiến lá bị khô trắng tới 60-70% diện tích hoặc toàn bộ. Các giọt dịch màu vàng hình cầu li ti thường xuất hiện ở mặt vết bệnh vào buổi sáng. Nếu bệnh bùng phát thành dịch, nhất là trên cây lúa làm đòng, lá đòng bị bệnh thì cây lúa dễ bị nghẹn đòng và năng suất giảm tới 55-70%, bông bạc, hạt lép nhiều.

Loại vi khuẩn Xanthomonas oryzae xâm nhiễm vào lá lúa theo thuỷ khổng, khí khổng và nhất là qua vết thương trên lá lúa. Nguồn cư trú của vi khuẩn bạc lá là qua hạt giống, cỏ dại thuộc họ hoà thảo như cỏ lồng vực, cỏ gừng, lúa chét, lúa tự mọc, đất và nước lưu tồn những vi khuẩn này, từ đó lây lan vào ruộng lúa.

Với nhiệt độ 25-30oC và ẩm độ 95-100% sẽ là điều kiện thuận lợi để bệnh phát triển mạnh và có nguy cơ thành dịch. Ở những chân ruộng hẩu, ruộng trũng, chua, bị che rợp, bón đạm muộn, bón nhiều đạm, mất cân đối với lân và kali, hoặc các diện tích bón đạm rải nhiều đợt... cũng làm cho lúa bị bệnh bạc lá vi khuẩn nặng.
Qua thực tế cho thấy, ở những ruộng có mực nước vừa phải khoảng 5-6cm, được giữ ổn định cũng hạn chế được bệnh so với ruộng ngập sâu hoặc khô hạn thất thường. Tính chống chịu của giống lúa cũng ảnh hưởng nhiều đến mức độ bệnh. Những giống lúa có tính chống chịu bệnh khá, đẻ nhánh gọn, tập trung, lá đứng, bề ngang hẹp, giai đoạn làm đòng trổ bông ngắn... tỏ ra chịu được bệnh. Riêng các giống Trung Quốc thường nhiễm bệnh nặng hơn.

Cách phòng trừ hiệu quả

Từ giữa tháng 8 bệnh đã xuất hiện. Khi điều kiện thuận lợi, mưa nhiều bệnh sẽ phát triển nhanh. Bệnh bạc lá vi khuẩn rất khó trị nếu để bị nặng, vì vậy khâu vệ sinh đồng ruộng cần được chú trọng để hạn chế tối đa nguồn bệnh ở rơm rạ, cỏ dại, lúa chét, lúa tự mọc...

Có thể xử lý hạt giống bằng nước ấm 54oC trong 10 phút, gieo mạ vào chân ruộng cao, không bị ngập nước.

Thường xuyên kiểm tra, theo dõi tình hình sâu bệnh, điều tiết để cây sinh trưởng nhanh, chăm sóc cân đối về dinh dưỡng, hợp lý về chế độ nước cho ruộng lúa.
Bón đạm gọn, không bón muộn và kéo dài, chú ý kết hợp với phân chuồng, lân, kali, tro bếp. Khi bệnh chớm phát sinh, giữ nước ruộng 5-10cm, nếu lúa đã bắt đầu làm đòng có thể tháo cạn nước vài ba ngày và nhất thiết ngừng bón đạm.

Khi bệnh xuất hiện với tỉ lệ 3-5% số lá bị bệnh, phải phun thuốc hoá học. Sử dụng thuốc Tilt super 300ND pha 1% phun trước khi lúa trổ đòng một tuần và sau khi lúa phơi màu xong 10 ngày, hoặc dùng Starner 20WP, pha 0,1-0,15% phun khi bệnh phát sinh và gia tăng vào giai đoạn lúa đẻ nhánh xong. Ngoài ra có thể sử dụng các loại thuốc Xanthomix 20WP, Sasa 20WP, Batocide 12WP, 22WP... Nếu bệnh nặng phải phun thuốc lặp lại lần 2, cách nhau 5-7 ngày và nên đổi loại thuốc khác.

TTNCKHNV

Nguồn: http://thvm.vn/trongtrot/3209

Khắc phục thoái hóa giống lúa

Một trong những nguyên nhân cơ bản làm giảm năng suất cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng là do chất lượng giống. Chất lượng giống là độ đồng đều, độ thuần di truyền giống. Độ thuần của giống có giữ được hay không tuỳ thuộc rất nhiều vào điều kiện chủ quan của người sản xuất và các điều kiện khách quan bên ngoài…

Những chương trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã kết luận rằng sự thoái hóa giống lúa trong quá trình canh tác chủ yếu do các nguyên nhân sau:

- Yếu tố cơ giới: Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thoái hóa giống, có thể nói 90 % lúa bị lẫn tạp là do nguyên nhân này. Khi thu hoạch lúa suốt không làm sạch máy, sân phơi bị sót những giống lúa khác, bao bì đựng không sạch, lúa khác có sẵn trên ruộng khi gieo sạ. Nói chung tất cả các động tác có tính chất cơ giới thực hiện không đúng trong quá trình sản xuất mà không thực hiện đúng thì đều gây nên lẫn tạp giống và sẽ dẫn đến sự thoái hóa giống.

- Thụ phấn chéo: Cây lúa là cây tự thụ phấn, tuy nhiên lúa vẫn bị lẫn tạp do phấn của cây khác bay tới, tỷ lệ lẫn tạp này thường không quá 2% tuỳ theo từng giống và sự cách ly các giống trong sản xuất. Đây cũng là nguyên nhân khá quan trọng làm thoái hóa giống lúa.

- Sâu bệnh: Trong quá trình sản xuất, giống lúa bị nhiễm sâu bệnh nhưng không thay giống và tuyển chọn lại thì cũng gây nên hiện tượng thoái hóa giống.

- Canh tác: Trên một chân đất vụ này làm một giống, vụ sau làm giống khác sẽ làm lúa bị lẫn rất nhiều. Trong quá trình trồng lúa thực hiện những biện pháp canh tác không đúng, không phù hợp cho giống đã dẫn tới giống bị thoái hóa làm cây cao, cây thấp, trổ chín không đều làm giảm năng suất lúa.

- Khí hậu: Do điều kiện khí hậu thời tiết bất lợi như quá nắng, quá khô hạn, lũ lụt, yếu tố bức xạ... gây ra hiện tượng biến đổi gen sẽ làm thay đổi cơ bản các đặc điểm nông học của giống.

Biện pháp khắc phục:

Về giống:

- Chọn giống có độ thuần tốt, có nguồn gốc rõ ràng, tên giống, cơ quan sản xuất, hạn sử dụng, người sản xuất phải ghi rõ ràng để có điều kiện kiểm tra lại khi giống không đạt yêu cầu.

- Sau hai vụ sản xuất thì nên thay giống khác trên nền đất đó và nên mua những giống mới ở các cơ sở sản xuất giống có uy tín như ở các Viện nghiên cứu, Trung tâm giống các tỉnh...

Trên một cánh đồng không nên trồng nhiều giống khác nhau để tránh tạp giao.

Chất lượng lúa giống do các cơ sở sản xuất phải đạt các tiêu chuẩn như:

+ Giống nguyên chủng: Độ sạch tối thiểu 99%, tạp chất tối đa 1%, hạt giống lẫn có thể phân biệt được 0,05%, hạt cỏ tối đa 5 hạt/kg, tỷ lệ nảy mầm 98%, độ ẩm hạt 13,5%.

+ Giống xác nhận: Độ sạch tối thiểu 99%, tạp chất tối đa 1%, hạt giống lẫn có thể phân biệt được 0,25%, hạt cỏ tối đa 10 hạt/kg, tỷ lệ nảy mầm 95%, độ ẩm hạt 13,5%.

Về phương pháp canh tác:

- Làm vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ trước khi xuống giống, dọn sạch lúa chét trên nền lúa cũ.

- Cày bừa trục đất thật kỹ, san ruộng bằng phẳng cho hạt lúa cũ vùi xuống tầng đất sâu sẽ không nảy mầm được.

- Gieo sạ với mật độ vừa phải, nên gieo theo hàng để dễ kiểm soát lúa lẫn.

- Phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại thật tốt, đáp ứng đủ nhu cầu về nước, dinh dưỡng cho cây lúa.

- Khử lẫn: Sau khi lúa trổ đều thì tiến hành khử lẫn, cắt tận gốc những bụi lúa có ngoại hình khác với quần thể như cao hơn, thấp hơn, kiểu lá, kiểu bông, màu sắc bông khác thường, trước khi thu hoạch cần tiến hành khử lẫn một lần nữa.

Khâu thu hoạch và sau thu hoạch:

- Thu hoạch đúng độ chín, khi cây lúa có 90% số hạt/bông chín thì thu hoạch là vừa.

- Máy tuốt lúa, máy quạt lúa cần phải vệ sinh sạch sẽ trước khi thực hiện.

- Quét sạch sân phơi trước khi phơi lúa, rũ sạch bao bì trước khi đựng lúa.

Trên đây là những biện pháp khắc phục lúa bị lẫn và dẫn đến thoái hóa. Cơ bản là bà con nông dân cần chú ý nguồn giống mua phải rõ ràng, trước khi gieo sạ cần làm vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, công tác này sẽ khử được mầm bệnh và lúa cũ còn lại, đặc biệt là lúa cỏ. Kiểm soát thật kỹ khi thu hoạch, các công cụ thu hoạch, sân phơi, bao bì sẽ hạn chế được rất nhiều sự lẫn giống và sẽ giảm được sự thoái hóa giống lúa.

KS. Lê Minh

Nguồn: http://thvm.vn/trongtrot/3299