Thứ Ba, 27 tháng 7, 2010

Bệnh đốm vằn

LUAGAO - Trân trọng giới thiệu bài viết về "Bệnh Đốm Vằn" của Th.S Huỳnh Kim Ngọc - Công ty CP BVTV SAIGON đăng trên NNVN ngày 27/07/2010

1. Tầm quan trọng

Bệnh đốm vằn hay khô vằn, có nơi còn gọi là bệnh ung thư là bệnh thường gặp và quan trọng thứ hai trên lúa sau bệnh cháy lá. Mặc dù bệnh dễ nhận diện và có thuốc đặc trị, tuy nhiên nếu không phát hiện và phòng trị kịp thời hay phòng trị không đúng cách, năng suất có thể giảm đáng kể.

Khác với bệnh cháy lá (đạo ôn) gây hại trong điều kiện khí hậu nóng, lạnh xen kẽ, trời âm u, nhiều sương mù, nên thường xuất hiện và gây hại trong vụ đông – xuân. Bệnh đốm vằn ưa thời tiết nóng: 28 – 32 độ C, ẩm cao 96 – 100%, ít ánh sáng nên bệnh thường thấy xuất hiện trong vụ hè thu, vụ mùa.

2. Tác nhân gây hại

Bệnh đốm vằn do nấm sống trong đất: Rhizoctonia solani, ngoài lúa nấm còn gây hại trên rau cải, đậu, bắp, bầu bí, dưa, cà rốt, ớt… mầm bệnh lây lan qua nước tưới, đất mang mầm bệnh và tàn dư thực vật của cây trồng bị bệnh vụ trước.

Trên lúa, nếu dùng giống ngắn ngày, năng suất cao, ruộng sạ, cấy dầy, thiếu ánh sáng, bón thừa đạm, bón đạm muộn, bón không cân đối N-P-K, ẩm độ trên ruộng quá cao, ruộng vụ trước trồng bị bệnh đốm vằn, không dọn sạch rơm rạ, lúa chét, cỏ dại… bệnh đốm vằn dễ xảy ra trong vụ tiếp theo.

Khác với bệnh cháy lá, có thể xảy ra ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng và gây hại trên tất cả các bộ phận của lúa như lá, cổ lá, cổ bông, hạt, mặt khác vết bệnh dễ thấy nhờ đó dễ phòng trị kịp thời. Bệnh đốm vằn, trái lại, thường xảy ra vào giai đoạn lúa đẻ nhánh tối đa – làm đòng, trổ (khoảng 35 – 70 NSS), bệnh âm thầm tiến triển nơi bẹ lá tiếp giáp mực nước, do đó nếu đi thăm đồng mà không chịu khó lội xuống ruộng quan sát thì sẽ không phát hiện được bệnh, đến khi bệnh phát triển lên lá đòng (trổ nóc) mới phòng trị thì đã quá muộn.

Triệu chứng bệnh đốm vằn dễ nhân diện, lúc đầu bệnh xuất hiện ở bẹ lá giáp mực nước, vết bệnh có dạng đốm loang lổ như da beo, màu xanh xám, viền nâu, sũng nước, dần dần đốm bệnh ăn sâu vào bẹ lá làm bẹ lá vàng, khô chết dần, đồng thời bệnh còn ăn lan lên trên, một khi bệnh lan lên tới lá đòng (trổ nóc) thì năng suất có thể giảm tới 50%, hạt không đẹp, lúa bị lép, lửng, khi xay dễ bể.

Nếu quan sát kỹ trên vết bệnh già, ta sẽ thấy có những hạch nấm nhỏ màu nâu xám, cứng. Đây chính là những hạch khuẩn, các hạch khuẩn này sau đó sẽ rụng, rơi xuống nước lây lan qua bụi lúa bên cạnh hoặc nằm dưới đất, trong rơm rạ chờ vụ sau sẽ tiếp tục gây hại.

Bệnh đốm vằn thường xảy ra thành từng chòm trên ruộng nhất là những nơi lúa mọc quá dày, quá tốt (ở giữa ruộng hay ở gần cống bộng dẫn nước), do đó khi thăm đồng, bà con cần lưu ý các nơi này trước tiên.

3. Phòng, trị

Để phòng, trị bệnh đốm vằn cần áp dụng biện pháp tổng hợp như:

Dọn sạch rơm rạ, lúa chét, cỏ dại, tàn dư thực vật sau khi thu hoạch.

Không sạ, cấy quá dày, bón cân đối N-P-K, không bón thừa đạm, bón đạm muộn, nên tăng cường bón K vừa tăng tính chống chịu bệnh vừa hạn chế đổ ngã.

Không để ruộng quá ẩm, nước ngập quá sâu.

Thường xuyên thăm đồng, nhất là giai đoạn đòng - trổ, cần lội xuống ruộng để quan sát, chú ý nơi lúa mọc quá dày là nơi bệnh dễ xảy ra, cần vạch lúa và quan sát nơi gốc xem có bệnh hay không. Nếu có, phải lập tức ngưng bón đạm, ngưng phun phân bón lá có đạm và phải phun thuốc trừ bệnh ngay.

Sử dụng một trong các loại thuốc đặc trị sau:

Carbenzim 50 WP, Carbenzim 500 FL: liều dùng 1,0 kg (0,5 L)/ha

Vanicide 3SL, 5SL: liều dùng 1,5 L (1,0 L)/ha.

Saizole 5SC: 1,0 L/ha.

Chú ý:

Khi phun cần phun kỹ, phun đẫm vào nơi có vết bệnh, cần phun đủ lượng nước khuyến cáo trên nhãn, hiệu quả phòng trị sẽ cao.

Nguồn: Báo NNVN

Thứ Năm, 8 tháng 7, 2010

Phòng tránh bệnh bạc lá lúa


LUAGAO - Hỏi: Vụ mùa năm trước các ruộng lúa của gia đình tôi và nhiều bà con khác bị bệnh bạc lá gây hại nặng nhưng chưa biết cách phòng trừ. Xin quý báo cho biết kỹ hơn về bệnh này và cách phòng tránh, chữa trị?

(Nguyễn Thị Hải Đường - xã Hải Tây, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định)

Trả lời: Bệnh bạc lá lúa (BBL) do vi khuẩn Xanthomonas campestris Oryzae gây ra và là một trong những bệnh nguy hiểm nhất trên cây lúa. Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện nóng ẩm nên ở các tỉnh phía Bắc thường xuất hiện từ tháng 3 trở đi, gây hại ở cả 2 vụ lúa trong năm, trong đó nặng nhất là các trà lúa vụ mùa, đặc biệt vào các thời kỳ hay có giông, bão. Các giống lúa thuần, lúa lai Trung Quốc rất dễ bị nhiễm bệnh. Bệnh chủ yếu xuất hiện ở các mép lá, cháy dần từ đầu chóp xuống (nên còn gọi là bệnh cháy lá) làm ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của cây; nhẹ làm cây sinh trưởng, phát triển kém, còi cọc, đẻ nhánh yếu, giảm năng suất, bị nặng làm các lá bị cháy, đặc biệt cháy lá đòng làm cho hạt bị lép lửng, chất lượng gạo kém, giảm năng suất nghiêm trọng, từ 25 đến 50%, thậm chí gây thất thu hoàn toàn.

Nguyên nhân dẫn đến cây lúa bị BBL thường do thời tiết nóng ẩm, mưa gió lớn xẩy ra trong thời kỳ lúa cần quang hợp cao; do đất làm không được ngấu, cây lúa bị bệnh vàng lá sau tiết lập thu được bón thêm phân để cấp cứu vàng lá, cây lúa ra lớp rễ mới phát triển lá non khi gặp mưa dông dễ nhiễm BBL; bệnh rất mẫn cảm với lượng đạm dư thừa trong lá, do đó những ruộng bón nhiều, bón muộn, bón lai rai, bón không cân đối giữa đạm, lân và kali, những ruộng trũng hấu dồn đạm bón cuối vụ, chăm sóc, thâm canh không đúng kỹ thuật… đều làm cho cây lúa dễ mắc BBL.

Trong quá trình nhổ cấy, vi khuẩn xâm nhập vào hệ thống dẫn nhựa của cây thông qua các vết thương cơ giới do bị đứt rễ hoặc lá lúa bị tổn thương. Vi khuẩn thường tụ tập thành những giọt keo đọng ở mép lá hoặc đuôi lá vào buổi chiều và dễ lây lan ra các cây lúa khỏe mạnh khác nhờ gió thổi đánh tan các giọt vi khuẩn này.

Biện pháp phòng tránh và chữa trị: Do chưa có thuốc đặc trị BBL, theo khuyến cáo của các nhà khoa học bà con cần chủ động áp dụng các biện pháp phòng tránh là chính, tập trung vào một số điểm sau đây:

1. Chọn các giống chống chịu tốt với BBL để bố trí mùa vụ cho thích hợp, đặc biệt là gieo cấy trong vụ mùa. Được biết, trong những năm gần đây Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội đã phối hợp với Công ty giống cây trồng Hải Dương nghiên cứu và sản xuất thành công một số giống lúa chống chịu hoặc kháng được BBL dựa trên công nghệ chuyển gen như các giống Bắc thơm số 7, Bắc ưu 253, HYT103, VL45, Syn 6. N.ưu 69, Bắc ưu 025 và một số giống khác được đưa vào cơ cấu gieo trồng trong tỉnh và khuyến cáo các địa phương khác sử dụng cho kết quả tốt.

2. Tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp kỹ thuật trong thâm canh sau:

- Làm đất kỹ, đủ ngấu và bón vôi từ 15-20kg/sào Bắc bộ để tránh ngộ độc rễ nhiễm bệnh vàng lá khi lúa đang đẻ sau tiết lập thu.

- Cấy mạ đủ tuổi, bón phân cân đối NPK và phân tổng hợp NPK có hàm lượng kali cao. Chú ý bón nặng đầu, nhẹ cuối (bón lót sâu, bón thúc sớm hết lượng đạm và kali), nhất là các giống dễ nhiễm BBL, không bón kali giai đoạn lúa đứng cái vì cây lại huy động đạm lên dễ bị bạc lá. Với các giống chất lượng, nên cấy lùi thời vụ (25-30/7) để lúa trỗ sau 25/9 đến trước 5/10, sát tiết hàn lộ nhiệt độ giảm, thời tiết mát sẽ đỡ bị nhiễm bệnh hơn. Hoặc Cty CP Giống cây trồng miền Nam có giống lúa Bác ưu 903 KBL kháng bệnh bạc lá rất tốt...

- Phun thuốc phòng chống BBL ngay sau khi có đợt mưa dông lớn, khi trên ruộng chưa xuất hiện các vết bệnh trên lá bằng các loại thuốc: Staner 20WP, Xanthomix 20WP… vào sáng sớm hoặc chiều mát. Chỉ phun thuốc trừ bệnh khi thật cần thiết với một số loại thuốc như: Staner 20WP, Batuxit, Bactocide12WP, Kasumin… theo hướng dẫn của cán bộ ngành BVTV.

(Theo NNVN)

----------------------------

GIỚI THIỆU THUỐC BVTV PHÒNG TRỪ BẠC LÁ LÚA

HOẢ TIỄN 50SP - Hoạt chất: Chlorobromoisocyanuric Acid

Liều dùng: 0,5 kg/ha. Pha một gói thuốc 20g/ bình 16 lít. Phun 400 lít nước/ha