Thứ Bảy, 27 tháng 3, 2010

LÚA LAI F1 TẠI VIỆT NAM VÀ GIỚI THIỆU MỘT SỐ GIỐNG LÚA LAI F1 NĂNG SUẤT CAO, PHẨM CHẤT TỐT THÍCH HỢP CHO CÁC TỈNH PHÍA NAM

LUAGAO - Lúa là cây lương thực chính tại Việt Nam, cung cấp lương thực và là ngành sản xuất truyền thống trong nông nghiệp. Mục tiêu sản xuất lúa đến năm 2010 là duy trì diện tích trồng lúa ở mức 3,96 triệu ha, sản lượng đạt 40 triệu tấn, cao hơn năm 2003 là 5,5 triệu tấn (Thủ tướng Chính phủ, quyết định số 150/2005/QĐ-TTg ngày 20/06/ 2005). Để đạt được mục tiêu trên, khả năng mở rộng diện tích không nhiều, và có thể ảnh hưởng đến hệ sinh thái, do vậy chủ yếu phải tăng năng suất. Giống là một biện pháp kỹ thuật để tăng năng suất hiệu quả nhất. Sử dụng ưu thế lai của cây lúa (lúa lai) để tạo ra những giống lai F1 năng suất cao đang được nghiên cứu và sử dụng trong những năm gần đây.

Việt Nam bắt đầu nghiên cứu lúa ưu thế lai vào năm 1983. Lúa lai thương phẩm được gieo trồng tại Việt Nam từ những năm 1991. Lúa lai đã thể hiện được ưu thế về: tiềm năng năng suất, chịu thâm canh và khả năng chống chịu sâu bệnh. Diện tích lúa lai tăng lên nhanh chóng từ 59 ha năm 1991 lên 584.000 ha năm 2006. Kỷ lục diện tích lúa lai đạt được 600.000 ha và năm 2003. Động lực thúc đẩy phát triển lúa lai với tốc độ nhanh là sự kết hợp của ba yếu tố: tiềm năng ưu thế lai cao về năng suất, sự quan tâm của lãnh đạo và chính sách hợp lý của Nhà nước.

Từ khi du nhập vào Việt Nam, lúa lai phát triển vượt bậc, diện tích sản xuất giống tăng từ 123 ha năm 1994 lên 1.430 ha năm 2007, năng suất hạt giống lúa lai F1 trung bình ở Việt Nam đã đạt khoảng 2,0 tấn/ha, kỷ lục đạt 3,5 – 4,0 tấn/ha tại Nam Định, trên tổng số 1500 – 2000 ha/năm. Hiện tại Việt Nam sản xuất ra 3.500 – 4.000 tấn hạt lai F1/năm; cung cấp 20 – 25 % tổng nhu cầu hạt giống. Lúa lai thương phẩm được phát triển mạnh ở các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên. Năng suất bình quân đạt 6,0 – 6,5 tấn/ha, cao hơn lúa thuần từ 15 – 20 %. Các tổ hợp đang được sử dụng gồm: Bác ưu 903, Bác ưu 64, Shan ưu quế 99, Nhị ưu 63, Nhị ưu 838, D ưu 6\527, TH3-3, VL20, HYT 83. Tổng kinh phí khuyến nông dành cho lúa lai là 15 tỷ đồng từ năm 1991 đến năm 2006, kinh phí khuyến nông hỗ trợ sản xuất hạt giống khoảng 52 tỷ đồng từ năm 1994 – 2007. Các vùng chuyên sản xuất hạt giống được hình thành như: Nam Định, Thanh Hóa, Lào Cai, Quảng Nam và Đắc Lắc.

Qua 19 năm (1991 – 2010) công nghệ lúa lai đưa vào Việt Nam, Lúa lai đã có chỗ đứng khá bền vững, nông dân chấp nhận, góp phần đưa công nghệ trồng lúa của Việt Nam vươn tới trình độ cao của khu vực. Lúa lai không chỉ phát triển ở các tỉnh phía Bắc, mà hiện tại đã phát triển mạnh ở các khu vực khác mà trước đây chúng ta cho rằng không thể phát triển như Đồng bằng sông Cửu Long. Một số giống Lúa lai nhiệt đới của một số công ty như Bayer, Giống cây trồng Miền Nam, Bioseed,…đã đưa ra thị trường, và được ưa chuộng trong vài năm gần đây. Sau đây xin giới thiệu một số đặc tính các giống Lúa lai nổi bật ở phía Nam

1. ARIZE B-TE1 – Sự đột phá hoàn hảo

Giống lúa lai Arize B-TE1 là giống lúa lai F1 ba dòng do công ty Bayer CropScience sản xuất và được công nhận giống quốc gia từ tháng 07/2007 cho các tỉnh phía Nam và công nhận cho các tỉnh phía Bắc từ tháng 3/2008 cho tất cả các vụ trong năm

+ Năng suất cao hơn lúa thường khoảng 20% trong cùng điều kiện canh tác

+ Hạt thon nhỏ, gạo chất lượng cao, cơm mềm, thơm nhẹ, chất lượng nấu ăn tốt, được chấp nhận cao

+ Kháng bệnh đạo ôn tốt (Cấp 1), kháng Rầy nâu trung bình

+ Hạt gạo dài 6,4 – 6,5 mm

+ Tiềm năng năng suất (Năng suất lý thuyết) trên 10 tấn/ha tại ĐBSCL nếu thâm canh tốt

+ Thời gian sinh trưởng (TGST):

++ Miền Nam: Đông xuân: 100 – 107 ngày; Hè thu: 105 – 110 ngày (lúa sạ, lúa cấy cộng thêm 5 – 7 ngày nữa)

++ Miền Trung và Cao Nguyên: Đông xuân: 110 – 115 ngày; Hè thu: 105 – 110 ngày (lúa sạ, lúa cấy cộng thêm 5 – 7 ngày nữa)

+ Lượng giống gieo: 3 – 5 kg/ 1.000 m2 (30 – 50 kg/ha) đối với lúa sạ. Tốt nhất 35 kg/ha

+ Năng suất đạt 8 – 10 tấn/ha. Theo kết quả sản xuất của nông dân ĐBSCL vụ Đông xuân 2007-2008 nếu thâm canh tốt, quản lý sâu bệnh tốt có thể đạt trên 12 tấn/ha

=> Nhược: Hạt B-TE1 ngắn và nhỏ vì thế không đáp ứng cho xuất khẩu, TGST hơi dài nên khó áp dụng cho vùng canh tác 3 vụ lúa trên năm

2. ARIZE XL – 94017 – Hạt dài ngon cơm

Arize XL – 94017 là giống lúa lai F1 ba dòng do công ty Bayer CropScience – chi nhánh Ấn Độ chọn tạo ra. Hạt giống đã được Bộ NN và PTNN công nhận cho Miền Nam và Trung Bộ vào tháng 1/2009

+ Năng suất cao hơn lúa thường khoảng 20% trong cùng điều kiện canh tác

+ Hạt thon dài 7,3 – 7,4 mm, gạo chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu

+ Kháng đạo ôn tốt (Cấp 2), chống chịu rầy nâu trung bình (Cấp 5)

+ Tiềm năng năng suất (Năng suất lý thuyết) trên 10 tấn/ha tại ĐBSCL nếu thâm canh tốt

+ Chiều cao cây 100 – 105 cm, lá đứng, xanh, cứng cây, chống đổ ngã, bông dài nhiều hạt

+ Thời gian sinh trưởng:

++ Miền nam: Đông xuân: 103 – 105 ngày; Hè thu: 108 – 110 ngày (lúa sạ, lúa cấy cộng thêm 5 – 7 ngày nữa)

++ Miền trung và Cao nguyên: Đông xuân: 115 – 120 ngày; Hè thu: 110 – 115 ngày (lúa sạ, lúa cấy cộng thêm 5 – 7 ngày nữa)

+ Lượng giống gieo: 3 – 5 kg/ 1.000 m2 (30 – 50 kg/ha) đối với lúa sạ. Tốt nhất 35 kg/ha

=> Nhược: TGST hơi dài nên khó áp dụng cho vùng canh tác 3 vụ lúa trên năm



3. PAC 807

- Nguồn gốc: PAC 807 là tổ hợp lúa lai hệ ba dòng, nguồn gốc Ấn Độ, nhập nội bởi Công ty Cổ phần Giống cây trồng Miền Nam (SSC), được công nhận là giống quốc gia năm 2007

- Đặc tính chủ yếu:

+ Thấp cây 85 - 95 cm, đẻ nhánh khỏe, bông to (180-200 hạt chắc /bông), hạt gạo dài, trong, không bạc bụng, cơm nở mềm, ngon. Trọng lượng 1.000 hạt 24 g.

+ Năng suất 7 – 8 tấn/ha, cao hơn lúc thuần 10 – 15 % (thâm canh tốt đạt 10 - 11 tấn/ha). TGST ngắn 85 – 90 ngày. Đặc biệt chống chịu tốt rầy nâu, đạo ôn và bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá

+ Trồng được ở các tỉnh phía Nam (từ Quảng Nam trở vào). Hiện đang trồng phổ biến ở các tỉnh phía Nam như Kiên Giang, Long An, Cần Thơ và Bình Định

4. Bio 404

- Nguồn gốc: Bio 404 là tổ hợp lúa lai hệ ba dòng do Ấn Độ lai tạo, được Công ty Bioseed Việt Nam nhập nội và sản xuất

- Đặc tính chủ yếu:

+ TGST vụ xuân từ 120 – 125 ngày, Bio 404 có khả năng chống đổ tốt, nhiễm bệnh khô vằn nhẹ, chiều cao cây từ 105 – 110 cm, đẻ nhánh khoẻ, tập trung, dạng hình cây gọn, lá màu xanh nhạt, bông to, nhiều hạt, trung bình 176 hạt/bông.

+ Năng suất bình quân 8,05 tấn/ha

+ Bio 404 thích hợp cho cả vùng từ Bình Định trở ra phía Bắc và phía Nam

*Lưu ý: Không dùng lúa thịt để làm giống vụ sau, năng suất không đảm bảo vì không còn ưu thế lai. Hạt giống đã được sử dụng hóa chất nên không được sử dụng cho người và gia súc, gia cầm

Nguyễn Chí Côngchicong1002@gmail.com

Thứ Hai, 15 tháng 3, 2010

Đề xuất cơ cấu giống lúa cho sản xuất vụ hè thu 2010 ở Nam Bộ

LUAGAO - Dẫn đăng bài viết về đề xuất cơ cấu Giống lúa Vụ Hè thu 2010 các tỉnh Nam Bộ

1. Đánh giá cơ cấu giống lúa vụ Đông Xuân 2009/ 2010


Thu hoạch lúa hè thu ở Ô Môn, Cần Thơ. Ảnh Internet

Để chuẩn bị cho sản xuất vụ Đông Xuân 2009/ 2010, Cục Trồng trọt đã xây dựng cơ cấu giống lúa hướng dẫn cho từng tiểu vùng sinh thái ở Nam Bộ theo phương châm chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và PTNT đã được định hình và thực hiện có hiệu quả trong nhiều năm qua là “mỗi địa phương xác định cơ cấu giống gồm 4-6 giống chủ lực, 4-5 giống bổ sung và 3-4 giống triển vọng mới; cơ cấu một giống không vượt quá 20% toàn vùng”. Thực tiễn sản xuất vụ Đông Xuân vừa qua cho thấy cơ cấu giống lúa đã được thực hiện và phát huy hiệu quả ở các địa phương.

Đánh giá chung thì bộ giống lúa chủ lực ở Nam Bộ hiện vẫn khá ổn định và tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong thời gian tới, nhóm giống này bao gồm các giống: IR50404, OM2517, VNĐ95-20, Jasmine 85, OM576, OM2514, OM2717, OMCS2000, Tài Nguyên, VD20...Ngoài ra, kết quả khảo nghiệm và sản xuất thử trong năm 2009 và vụ Đông Xuân 2009/ 2010 cũng đã xác định được nhiều giống lúa triển vọng mới; đây là cơ sở quan trọng để xây dựng cơ cấu giống lúa cân bằng và an toàn cho sản xuất. Tuy nhiên do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nhiều vùng sản xuất lúa ở Nam Bộ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng bởi hạn hán và xâm nhập mặn vào cuối vụ, gây thiệt hại đáng kể năng suất lúa. Yêu cầu về giống lúa kháng phèn mặn và hạn hán cao trở nên cấp thiết bên cạnh vấn đề sâu bệnh hại và chất lượng gạo.

2. Đề xuất cơ cấu giống lúa vụ Hè Thu 2010

Để sử dụng tốt nhất nguồn giống lúa hiện có, cần xây dựng cơ cấu giống lúa cân bằng toàn vùng cả về khía cạnh chất lượng và chống chịu điều kiện khó khăn và sâu bệnh hại. Cơ cấu diện tích các nhóm giống lúa theo tỷ lệ 30% giống kháng đến nhiễm nhẹ, 50% giống hơi nhiễm đến nhiễm, và không quá 20% giống nhiễm đến nhiễm nặng rầy nâu, đạo ôn và VL, LXL đã được định hướng trong thời gian qua tiếp tục được duy trì; cần tiếp tục quản lý chặt chẽ cơ cấu giống lúa IR50404 trong vụ Hè Thu theo khuyến cáo của Hiệp hội lương thực; đảm bảo tỷ lệ IR50404 không quá 20% cơ cấu giống từng vùng thông qua mở rộng diện tích các giống lúa ngắn ngày có triển vọng như OM4900, OM6162, OM6677, OM6561, OM4218, MTL499... kết hợp với duy trì tỷ lệ hợp lý giống lúa OM 2514 và OM1490; không mở rộng diện tích qúa cao giống Jasmine 85. Ngòai ra, trong vụ Hè Thu tới cần chú ý đến mức độ chống chịu bệnh khô vằn và điều kiện khó khăn như đổ ngã, hạn và xâm phập mặn đầu vụ … để xây dựng cơ cấu giống phù hợp. Căn cứ vào thực tiễn sản xuất, các nhóm giống cho sản xuất vụ Hè Thu tới được tổng hợp như sau:

Nhóm giống lúa chủ lực: OM2517, VND95-20, OM2514, OM2717, OM4498, TNĐB100, IR50404, OM576, AS996, OM4218, OMCS2000, OM3536, OM2395, OM6162, OM4900...

Nhóm giống bổ sung: Jasmine85, OM6561, VD20, OM2718, ST5, OM5199, OM5472, OM4088, OM6677, OM1490, Nàng Hoa (lúa thơm), B-TE1 (lúa lai), Một bụi đỏ, nếp OM85...

Nhóm giống lúa triển vọng: OM6377, OM6677, OM4088, OM8923, OM6976, OM7347, OM5490, OM4101, OMCS2009, MTL499, Nàng Hoa, PHB71...

Các giống lúa chịu phèn mặn khá: OM2488, OM2818, OM6379, OM6677, OM6074,. OM4276, OM6690, AS996, OM5651, OM6521, OM5199ĐB, OM576, OM 2517, OM5472, OM6561, OM2395, B-TE1, ST5...

Giống lúa cho mô hình canh tác Lúa -Tôm: ST5, OM2517, OM2717, OM5629, B-TE1...

Trên cơ sở đánh giá cơ cấu giống lúa ở Nam Bộ giai đoạn 2008-2009, và kết quả khảo nghiệm và sản xuất thử các giống triển vọng mới, cơ cấu giống lúa từng tiểu vùng sinh thái ở Nam Bộ cho vụ Hè Thu 2010 được đề xuất như sau:

2. 1. Vùng bán đảo Cà Mau: ưu tiên áp dụng các giống lúa ngắn ngày, chịu phèn mặn và điều kiện khó khăn.

- Giống chủ lực: OM 2517, VND95-20, OMCS 2000, OM 2717, IR50404, OM576, OM4498, AS996 ...

- Giống bổ sung: OM6162, OM5472, Jasmine 85, ST5, OM4900, OM6561, lúa lai B-TE1...

- Giống triển vọng: OM6976, OM5451, OM6677, OM8923, OMCS2009, lúa lai PHB71...

2. 2. Vùng tây sông Hậu và Tứ giác Long Xuyên: ưu tiên áp dụng các giống lúa thâm canh cao

- Giống chủ lực: OM2517, OM4498, OM2395, OMCS2000, OM4900, OM6162, OM5472, OM4218...

- Giống bổ sung: IR50404, OM2717, OM2514, OM1490, OM576, OM3536, Jusmine 85...

- Giống triển vọng: OM4668, OM8923, OM5451, OM6976...

2. 3. Vùng phù sa ngọt dọc sông Tiền, sông Hậu: ưu tiên sử dụng các giống lúa cao sản chất lượng cao:

- Giống chủ lực: OM2517, OM2514, VNĐ95-20, Jamine 85, OMCS2000, OM4900, OM4218, OM6162...

- Giống bổ sung: OM1490, OM2717, OM2395, IR64, TNĐB100, OM6561, OM5199, VD20, OM5472...

- Giống triển vọng: OM8923, OM6377, OM6976, OM5451...

2. 4. Vùng Đồng Tháp Mười: ưu tiên áp dụng giống lúa cực ngắn ngày, chịu phèn mặn trung bình – khá

- Giống chủ lực: IR50404, VNĐ95-20, VD20, OMCS2000, OM3536, OM6561, OM2517, OM4900...

- Giống bổ sung: OM1490, OM576, MTL499, OM2514, OM6162, OM4498, OM5472...

- Giống triển vọng: MTL499, OM6976, OM4088, OM4041, OM5472, OM8923, MTL547...

2. 5. Vùng ven biển Nam Bộ: ưu tiên áp dụng giống ngắn ngày, thâm canh trung bình – khá, chịu điều kiện khó khăn

- Giống chủ lực: OM2517, IR50404, OM576, AS996, OM2395, OM6162, OM6561, OM5472, OMCS2000...

- Giống bổ sung: OM3536, OM4498, ST5, OM4900, OM4059, Jasmine 85, OM4101, OM7347, B-TE1, Một bụi đỏ...

- Giống triển vọng: OM8923, OM6976, OM6677, OM3395, OM4668, MTL560, PHB71...

2. 6. Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh ĐNB:

- Giống chủ lực: VNĐ95-20, OM4900, OMCS2000, ML48, ML202, IR64, IR59606, OM6162...

- Giống bổ sung: VNĐ99-3, OM3536, TH6, TH41, OM4498, OM4900...

- Giống triển vọng: OM6976, OM4218, OM6161, OM8923, MTL560, PHB71...

Thực tiễn sản xuất cho thấy, giống chủ lực và giống bổ sung khác nhau đáng kể tùy theo tiểu vùng sinh thái, thậm trí ngay trong một tỉnh. Trên cơ sở đề xuất trên, mỗi địa phương xác định cơ cấu giống gồm 4-6 giống chủ lực, 4-5 giống bổ sung và 3-4 giống triển vọng mới; cơ cấu một giống không vượt quá 20% diện tích trên địa bàn.
ọng mới; cơ cấu một giống không vượt quá 20% toàn vùng

Giới thiệu các giống lúa triển vọng được xác định qua 2 năm khảo nghiệm và sản xuất thử (2009-2010)

TT

Tên giống

TGST

(ngày)

Năng suất (tấn/ ha)

Chất lượng gạo

Rầy nâu

Vàng lùn

Đạo ôn

1

OM 6377

95-100

5-8

Khá

HK-HN

TB

HN

2

OM 6677

95-100

5-8

T. bình

HN-N

TB

N

3

OM4088

90-95

6-8

Tốt

HN

NhN

N

4

OM 8923

92-96

5-8

Tốt

HN

NhN

HK

5

OM6976

95-100

6-8

khá

HK

NhN

HK

6

OM5451

90-95

5-7

Tốt

HN

NhN

HK

7

OM7347

95-100

6-8

Khá

HN

NhN

HN

8

OM5490

95-100

6-8

Khá

HN

NhN

HN

9

OM 4101

92-96

5-7

Khá

HN

NhN

HN-N

10

OMCS2009

88-90

6-8

Khá

HN

NhN

HN

11

OM5472

92-98

6-8

T. bình

HN

NhN

NhN

12

MTL 499

95-100

5-7

Tốt

HN

TB

HN

13

OM3995

90-95

6-8

Tốt

HN

NhN

HN

14

PHB71

100-105

6-9

Tốt

N

N

K

15

Nàng Hoa

95-100

5-7

Tốt, thơm

HN

NhN

HN

K=kháng; HN=hơi nhiễm; HK=hơi kháng; N=nhiễm; NhN=nhiễm nhẹ; TB=trung bình; NN=nhiễm nặng; TGST: trong điều kiện sạ thẳng; PHB71: lúa lai; Nàng Hoa: lúa thơm

Lê Văn Tính – TTKN Cần Thơ
(Tổng hợp từ: Nguyễn Quốc Lý, Trung tâm KKN Giống, SPCT và Phân bón Nam Bộ)

Nguồn: http://www.luagao.com/thongtinkythuat/gionglua/77C250_de_xuat_co_cau_giong_lua_cho_san_xuat_vu_he_thu_2010_o_nam_bo.aspx


Thứ Ba, 9 tháng 3, 2010

Bình Định: Nông dân mê lúa lai Arize XL 94017

LÚA GẠO - Trong bối cảnh thời tiết ngày càng diễn biến thất thường làm phát sinh nhiều loại sâu bệnh gây hại trên cây lúa đã khiến nông dân ngày càng kỹ lưỡng hơn trong việc chọn giống. Trong vài năm gần đây, nông dân tại nhiều địa phương có phong trào sản xuất lúa lai mạnh ở Bình Định rất thích giống lúa lai Arize XL 94017 (Công ty Bayer VN) không chỉ bởi tính kháng bệnh và năng suất cao mà còn vì chất lượng gạo của nó.

An Nhơn là 1 huyện trọng điểm lúa của tỉnh Bình Định, diện tích SX lúa hằng năm đạt từ 18.000-19.999 ha, chiếm 80% diện tích gieo trồng. Đây cũng là huyện đi đầu trong việc đưa các giống lúa lai vào sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông dân. Ông Nguyễn Thành Minh - Trưởng phòng Kinh tế huyện An Nhơn cho biết: “Vụ đông xuân 2009-2010 An Nhơn SX hơn 7.100 ha lúa, trong đó có 1.600 ha lúa lai. Thực tế cho thấy những diện tích nông dân gieo sạ các lúa thuần ngày càng gặp khó khăn bởi có một số giống đã đạt “kịch trần” năng suất và ngày càng bộc lộ nhiều nhược điểm như: Độ đồng đều thấp và không kháng được sâu bệnh gây hại.

Do đó, trong nhiều năm qua chúng tôi không ngừng tìm tòi, làm khảo nghiệm nhiều loại giống lúa lai để xác định các loại giống cho năng suất cao, chất lượng gạo ngon, kháng được sâu bệnh và thích nghi tốt với điều kiện khí hậu ngày càng khắc nghiệt để kịp thời đưa vào cơ cấu bộ giống SX trên chân 2 vụ lúa/năm nhằm tăng cao năng suất trên cùng diện tích. Sau 3 năm SX giống lúa Arize XL 94017 của Cty Bayer VN chúng tôi ghi nhận: Đây là giống có xuất xứ từ Ấn Độ, một xứ sở oi nóng nên giống Arize XL 94017 chẳng những thích nghi trong vụ ĐX ở Bình Định mà còn thích ứng với cả vụ thu vì đặc tính chịu nắng nóng của nó. Năng suất trong các vụ ĐX là gần 88 tạ/ha và vụ thu là hơn 90 tạ/ha”.

Ông Phan Văn Khiêm - Trưởng trạm Khuyến nông huyện Tuy Phước cho biết thêm: “Trong những năm qua, Tuy Phước không ngừng đẩy mạnh công tác chuyển đổi cơ cấu mùa vụ từ SX 3 vụ sang còn 2 vụ lúa/năm nên luôn khao khát các giống lúa lai có tiềm năng năng suất cao, chống chịu sâu bệnh và có chất lượng gạo ngon. Sau 3 năm sản xuất, nông dân Tuy Phước đã nhận định giống lúa lai Arize XL 94017 là loại giống hội đủ những ưu điểm trên và đang rất mê. Nông dân càng mê hơn khi hạt gạo của nó thon dài, cơm mềm, thơm ngon, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu nên giá bán thường cao hơn các loại gạo khác”.

Dắt chúng tôi về cánh đồng thôn Nho Lâm, xã Phước Hưng (Tuy Phước - Bình Định), nông dân Mai Xuân Thanh chỉ xuống đám ruộng có diện tích hơn 1.300 m2 của mình và khoe: “Tôi là người đã có thâm niên làm lúa lai từ nhiều năm nay, nhưng khi bắt đầu làm giống Arize XL 94017 là tôi nhận ra ngay những điểm vượt trội của nó so với các giống lúa lai khác. Giống này đẻ nhánh rất khỏe, tập trung nên mật độ sạ chỉ cần 1,8kg/sào là vừa. Trong quá trình phát triển, cây lúa kháng được các bệnh đạo ôn, bọ trĩ và bị rầy nâu... chê.

Như vụ đông xuân 2009-2010 này, trong khi các đám ruộng chung quanh đang bị dịch rầy tấn công ào ạt thì đám ruộng của tôi vẫn bình yên, chưa hề phun 1 lần thuốc nào mà cây lúa vẫn khỏe mạnh. Hiện cây lúa đã hơn 70 ngày tuổi, đang làm đòng mà với mã lúa đẹp như thế này thì năng suất cầm chắc là hơn 70 tạ/ha. Nhờ chất lượng gạo ngon nên khi bán ra thị trường luôn cao hơn các loại gạo khác từ 500-800đ/kg. Trong vụ thu 2009, sau khi tính toán chi li, sản xuất lúa lai Arize XL 94017 có lãi ròng 11 triệu đồng/ha, trong khi đó mức lãi của các giống lúa lai khác chỉ 6,5 triệu/ha”.

Nông dân Mai Xuân Thanh bộc bạch thêm kinh nghiệm: “Đây là giống phàm ăn nên mình phải đầu tư thâm canh ngay từ đầu thì nó sẽ có sức khỏe tốt để chống chịu sâu bệnh. Đặc điểm của giống này là lá lúa luôn có màu xanh rất đẹp dù đang thiếu phân. Nhiều khi nông dân bưng phân ra ruộng định vãi, thấy lúa xanh ngời ngời tưởng đã đủ dinh dưỡng liền mang phân về không vãi, sau đó khi trỗ cây lúa bị lép cậy cho năng suất kém”.

Bởi vậy, dù giá giống Arize XL 94017 khá cao: từ 62.000-65.000đ/kg nhưng nhờ hiện nay tỉnh Bình Định vẫn áp dụng chính sách hỗ trợ 30% giá giống và hiệu quả kinh tế cao nên nông dân rất mê làm giống lúa này. Tuy nhiên, giống quá khan hiếm. Như vụ ĐX này, nông dân 2 huyện An Nhơn và Tuy Phước đăng ký mua đến hàng chục tấn giống Arize XL 94017 nhưng cuối cùng không có giống về, họ phải chuyển qua làm giống lúa lai khác.


Vũ Đình Thung

Nguồn: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/2/2/2/46208/Default.aspx

GIỐNG LÚA LAI BA DÒNG BJ - 9911 CỦA CÔNG TY BIOSEED VIỆT NAM

LÚA GẠO - Giới thiệu giống lúa lai ba dòng BJ-9911 của Công ty Bioseed Việt Nam. Ông Nguyễn Quốc Thắng, Giám đốc Chi nhánh TP Hồ Chí Minh cho biết, BJ 9911 là giống lúa lai 3 dòng, có thời gian sinh trưởng từ 90 – 95 ngày, chiều cao cây trung bình, cứng cây, chống chịu trung bình rầy nâu và bệnh cháy bìa lá, chống chịu tốt bệnh đạo ôn và khô vằn, hạt gạo dài, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, tiềm năng năng suất cao, trung bình đạt 8 – 10 tấn/ha. Giống đang được sản xuất thử ở khu vực ĐBSCL.

Thứ Tư, 3 tháng 3, 2010

Giá lúa nằm ngoài hạt gạo

LUAGAO - Mới vào vụ đông xuân, lúa hồi giữa tháng 2-2010 đang 5.200 đồng/kg, tuột nhanh xuống 4.200 - 4.000 đồng/kg chỉ sau vài tuần. Tốc độ tuột giá đã đi cùng với tốc độ thu hoạch!

Các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Thái Lan. Myanmar… đang bị hạn hán, đe dọa mất mùa. Có nơi như Trung Quốc, chánh phủ đang lo đói, lo khát cho cả chục triệu người và cũng ngần ấy đầu gia súc.

Tại Việt Nam đang hạn ở Đồng bằng sông Hồng, ngay ở Đồng bằng sông Cửu Long cũng bị hạn và nước mặn xâm nhập, đe dọa mất mùa trên một số diện tích lúa rộng lớn ở các tỉnh ven biển.Chỉ có An Giang, Đồng Tháp và phần lớn diện tích ở Kiên Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long… không bị mặn xâm nhập là trúng mùa.

Trúng mùa trên diện tích "cục bộ", trong điều kiện mất mùa trên "đại cục" mà lúa bị rớt giá thì nông dân ta đau điếng!

Còn đổ thừa do chưa có khách hàng ký mua hoặc họ trả giá thấp thì chẳng khác nào "chạy án" với nông dân, bởi khách hàng họ thừa biết cảnh nông dân (và cả doanh nghiệp) của ta thiếu kho, mà báo đài của ta thì thông tin rất đầy đủ, vậy ai mà không ráng nín lại để làm giá có lợi cho mình?!

Mấy năm rồi, chánh phủ có đưa ra giá sàn bảo hiểm cho nông dân, lãi tối thiểu 30 đến 40%. Nhưng giá thành của ký lúa là bao nhiêu thì mỗi cấp, mỗi ngành mỗi khác, đặc biệt là cơ quan nào cũng tính thấp hơn nông dân, mà nông dân thì cũng chưa phải là tính đủ. Vậy cho nên, sau một thời gian làm lúa nhiều người thiếu nợ bán đất mà không hiểu vì sao mình nghèo?!

Vấn đề là ở cách tính giá thành chưa đủ, mà giá thành của nền sản xuất hàng hóa toàn cầu chớ không phải sản xuất hàng hóa nhỏ, thị trường địa phương và nội địa. Vấn đề nữa là chu kỳ sản xuất lúa 4 tháng/vụ; chu kỳ kinh tế - tài chánh là tính năm, mỗi năm sản xuất từ 2 đến 3 vụ lúa hoặc 4 vụ màu, bởi mỗi vụ lời lỗ khác nhau; chu kỳ mức sống của nông dân là 5 năm 10 năm mới tính được. Tính ổn định sản xuất là cơ sở đánh giá đời sống.

Nhớ hồi bao cấp, năm 1979 chánh phủ cho giá mua lúa 21 xu/ký, chúng tôi mua 35 xu không được, vậy mà bộ đề nghị Chánh phủ chỉ nâng lên 27 xu giá chỉ đạo và 55 xu giá khuyến khích. An Giang phải "lách" mua giá 1,5 đồng rồi 2 đồng/ký mới mua được. Vậy là hơn 30 năm rồi chúng ta chưa đánh giá đúng giá trị thật của hạt lúa, bởi giá trị thật của hạt lúa nằm ngoài hạt gạo!

Trở lại câu chuyện thời sự: "trúng mùa rớt giá". Lý do đơn giản là nền sản xuất nông nghiệp của ta chưa được tổ chức lại cho phù hợp với hoàn cảnh hội nhập. Giá thành lương thực, nông sản của ta còn cao là do đầu vào bị nhiều tầng nấc trung gian "kê" lên, cách tính lại không đủ nên có khi "lời giả lỗ thật". Còn đầu ra, do nông dân không giữ được sản phẩm lâu hơn, chất lượng tốt hơn để đợi khi có giá.Mặc dù nông dân cũng có khả năng biết thời điểm giá lên, biết cách giữ chất lượng tốt hơn, nhưng vì thiếu các dịch vụ sau thu hoạch, không kho trữ, không tiền trả nợ và không vốn cho vụ mới liền tay nên đành bán tại ruộng.

Biết bịnh mà không tự trị được. Chỉ có nhà nước mới giúp họ trị được. Không "nhà" nào thay thế. Chỉ có nhà nước giúp tổ chức hợp tác xã và tạo điều kiện chủ động tập trung, tích tụ đất đai để có thêm nhiều trang trại lớn thì mới khắc phục được.

Hợp tác xã - liên kết bốn "nhà" (nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nông) sẽ giúp ổn định sản xuất, hạn chế phân hóa giàu nghèo ở nông thôn. Bởi có hợp tác xã thì nhà nước mới có chỗ đầu tư đến tay nông dân để làm lò sấy, kho chứa, xe máy, khoa học kỹ thuật, tiền vốn v.v… mà không qua khâu trung gian nào.

Càng đầu tư qua trung gian, nông dân càng nghèo và các doanh nghiệp kinh doanh vật tư, dịch vụ nông nghiệp và lương thực càng giàu.

Trở lại vấn đề thời sự cũ rích "trúng mùa rớt giá", muốn không còn là "thời sự" nữa là chỉ khi nào nông nghiệp được sản xuất theo hình thức hợp tác xã và trang trại, sản xuất lúa phải có kho dự trữ, có lúa trong kho rồi mới ký hợp đồng v.v… Bởi giá trị hạt gạo nằm ngoài hạt lúa.


Nguyễn Minh Nhị (An Giang)

Nguồn: http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/bandocviet/30607/