LUAGAO - Muỗi hành (sâu năn) hoạt động mạnh, giao phối và đẻ trứng về đêm, mỗi con cái có thể đẻ từ 100-200 trứng. Thời kỳ mạ muỗi hành đẻ rải rác trên các phiến lá ở gié, thời kỳ lúa đẻ nhánh chúng đẻ trên bẹ lá, cách mặt nước 30 cm. Trứng hình bầu dục dài, bề mặt trơn bóng, mới đẻ màu trắng sữa, sau chuyển sang màu đỏ tím. Nhộng của muỗi hành có thể di chuyển lên xuống trong ống hành. Nhộng có màu da cam, đỉnh đầu có một đôi gai, lúc sắp hoá nhộng muỗi hành chuyển lên trên ngọn chui nửa mình ra, lột vỏ nhộng để lại trên đầu ống hành. Sâu non có 3 tuổi, màu trắng sữa, dịch cơ thể màu hồng nhạt. Mặt bụng ngực trước có một mẩu cứng chẻ đôi. Muỗi hành phá hại lúa từ giai đoạn mạ đến giai đoạn cuối đẻ nhánh, khi bị tấn công đỉnh sinh trưởng biến dạng thành “cọng hành” (hay còn gọi ống hành). Khi ống hành đã vươn ra ngoài cũng là lúc sâu non đã hoá nhộng. Cần phân biệt triệu chứng thiệt hại do sâu đục thân và muỗi hành. Với sâu đục thân đọt lúa cuốn tròn có màu xanh lúc đầu, sau đó những đọt này héo khô, nắm kéo lên thì đứt ra ngay, đó là do sâu ăn phá đọt non làm dưỡng chất và nước không di chuyển lên nuôi đọt được. Với muỗi hành là những ống tròn màu xanh lá cây nhạt, đó là bẹ lá bị biến dạng, phiến lá chỉ là một mảnh nhỏ ở đầu ống, nắm kéo lên không đứt, những ống này không chết đi nhưng làm chồi bị nhiễm không trổ bông được, những bụi lúa bị nhiễm lùn, đâm nhiều chồi, lá xanh thẫm, ngắn, dựng đứng, có nhiều cọng lúa giống như cọng hành lẫn trong bụi lúa. Nhiệt độ ấm nóng và độ ẩm cao là điều kiện thích hợp cho muỗi hành phát sinh phát triển. Những năm mưa nhiều, có sương mù muỗi hành phát sinh phát triển mạnh; miền núi bị muỗi hành phá hại nặng hơn đồng bằng; ruộng lúa đủ nước bị phá hại nặng hơn ruộng hạn. Muỗi hành gây hại trong vụ mùa nặng hơn vụ xuân và mùa sớm nặng hơn mùa muộn. Bón phân không cân đối cũng là nguyên nhân để muỗi hành gây hại. (Theo Báo NNVN) Muỗi hành - Sâu năn (Rice stem gall midge)
| ||
Nơi trao đổi chia sẽ cho những người yêu thích về Marketing, Kinh doanh trong lĩnh vực Nông Nghiệp
Thứ Tư, 22 tháng 12, 2010
Muỗi hành hại lúa và biện pháp phòng trừ
Thứ Năm, 9 tháng 12, 2010
Lúa "điếc" do đèn đường?
LUAGAO - Hàng trăm hecta lúa nàng thơm chợ Đào (Long An) nằm dọc đường cao tốc TP.HCM - Trung Lương không trổ bông mà theo một số nhà khoa học, nguyên nhân là do dàn đèn cao áp trên đường cao tốc.
Nhiều bạn đọc là nông dân ở các xã Thanh Phú, Mỹ Yên và Tân Bửu (huyện Bến Lức, Long An) phản ảnh gần 100ha lúa nàng thơm Chợ Đào ở đây ôm đòng rồi nghẹn cả tháng nay không trổ bông được. Các nhà khoa học khẳng định nguyên nhân nằm ở... dàn đèn cao áp trên đường cao tốc.
Ruộng lúa của ông Lê Văn Mười gần đường cao tốc không trổ bông - Ảnh: Ngọc Hậu |
| Trên cùng một ruộng lúa nhưng phần không bị đèn cao áp chiếu vào đã trổ bông bình thường, trong khi phần bị ảnh hưởng bởi ánh sáng của đèn thì không trổ bông - Ảnh: N.Hậu |
Chuyện lạ
Chưa nghe ai nói đèn đường làm lúa không trổ bông Trao đổi với Tuổi Trẻ chiều 9-12, ông Nguyễn Huy Thao - giám đốc Trung tâm Quản lý đường cao tốc - nói: “Từ trước đến giờ tôi chưa từng nghe ai nói đèn đường làm lúa không trổ bông, nên chưa thể trả lời vấn đề này ngay bây giờ được”. Ông Thao cũng cho biết hiện ông chưa nhận được thư mời của UBND huyện Bến Lức về việc họp giải quyết vụ này. V.Tr. |
Men theo các bờ ruộng nằm dưới cầu cạn đường cao tốc TP.HCM - Trung Lương tại khu vực xã Thanh Phú là cánh đồng lúa bạt ngàn xanh mơn mởn. Nhìn bằng mắt thường ai cũng nghĩ vụ này bà con nông dân ở đây sẽ trúng mùa.
Thế nhưng khi gặp nông dân, ai cũng mếu máo: “Lúa bị nghẹn cả tháng nay không trổ bông được. Mọi người bảo tại dàn đèn cao áp từ đường cao tốc rọi xuống nên lúa không trổ bông được. Vụ này coi như trắng tay rồi”.
Ông Lê Văn Mười ở xã Thanh Phú kể gia đình ông có 4,5ha ruộng gieo sạ giống nàng thơm Chợ Đào nổi tiếng. Trong đó có khoảng 3ha ở dọc cầu cạn đường cao tốc không chịu trổ bông, phần còn lại ở xa đã trổ bông bình thường.
Gặp chúng tôi hôm 8-12, ông Mười cho biết: “Tôi gieo lúa từ ngày 2-6 âm lịch (ngày 13-7-2010). Đúng chu kỳ thì khoảng ngày 20-11 âm lịch (25-12) sẽ thu hoạch, nhưng hôm nay là 3-11 âm lịch (8-12) mà 3ha lúa chưa chịu trổ bông thì làm sao thu hoạch được?”.
Tương tự, hộ ông Hồ Văn Năm ở ấp Thanh Hiệp, xã Thanh Phú trồng 2ha lúa nàng thơm Chợ Đào ở cạnh đường cao tốc, đến nay cây lúa cứ ôm đòng hoài không chịu trổ bông. Ông Năm than thở: “Tui thuê đất để làm lúa chứ đâu phải đất nhà. Tiền thuê đất 7 triệu đồng/ha, rồi tiền giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật... tổng cộng chi phí lên đến 10 triệu đồng/ha. Lúa không trổ bông coi như ôm nợ”.
Cạnh ruộng lúa của ông Năm, 3.000m2 lúa của ông Lê Quang Thùy cũng không trổ bông và ông Thùy đã tính tới chuyện bán đám lúa này để người ta làm cỏ cho bò.
Ông Lê Minh Đức, giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Long An, xác nhận đây là lần đầu tiên nông dân trong tỉnh gặp cảnh lúa ôm đòng hoài không chịu trổ bông.
Thống kê bước đầu cho biết chỉ tại huyện Bến Lức đã có gần 100ha lúa của nông dân bị nghẹn. Nếu tính năng suất lúa ở đây 5 tấn/ha và lúa đặc sản giá 7.500 đồng/kg thì thiệt hại của khu vực này khoảng 3,7 tỉ đồng.
Hiện tượng “cảm ứng quang kỳ”
Tiến sĩ Lê Hữu Hải - chuyên gia về cây lúa ở Trường đại học Tiền Giang - cho biết giống lúa nàng thơm Chợ Đào là lúa mùa có đặc điểm chỉ trổ bông mỗi năm một lần vào thời điểm “ngày ngắn, đêm dài”, ứng với câu tục ngữ “Ngày tháng 10 chưa cười đã tối”.
Loại lúa này nếu gieo sạ vào tháng 1, tháng 2 (âm lịch) thì phải đến tháng 10, tháng 11 (âm lịch) mới trổ bông. Còn gieo sạ tháng 6, tháng 7 thì đến thời điểm đó lúa cũng sẽ trổ bông.
Theo tiến sĩ Lê Hữu Hải, việc bà con nông dân cho rằng ruộng lúa nàng thơm Chợ Đào ở cặp đường cao tốc bị tác động bởi ánh sáng đèn cao áp làm lúa không trổ bông là đúng. Ánh sáng đèn suốt đêm đã làm ngày dài ra (đối với cây lúa) nên lúa cứ ôm đòng hoài, không trổ bông. Hiện tượng này gọi là “cảm ứng quang kỳ”.
Nếu tắt đèn cao áp một thời gian thì lúa sẽ trổ bông. Còn nếu không thể tắt coi như lúa này không bao giờ thu hoạch được.
Ông Hồ Văn Chiến, giám đốc Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Nam (Cục Bảo vệ thực vật), cũng xác nhận lúa không trổ bông được là do đèn cao áp trên đường cao tốc chiếu vào. Bằng chứng là một vài vạt lúa nằm sát cầu cạn đường cao tốc không bị tác động bởi ánh sáng đèn từ trên cầu dọi xuống vẫn trổ bông bình thường. Trong khi phần lúa phía bên ngoài bị tác động bởi ánh sáng đèn cứ ôm đòng không chịu trổ bông.
Theo ông Chiến, đường cao tốc không thể tắt đèn ban đêm được nên diện tích lúa nói trên coi như phải bỏ!
Ông Lê Minh Đức cho biết UBND huyện Bến Lức đang phát hành thư mời Trung tâm Quản lý đường cao tốc đến để làm việc, bàn hướng giải quyết, bồi thường vụ lúa không trổ bông do đèn trên đường cao tốc gây ra.
N.HẬU - V.TR.
Có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường Theo điều 604, 605 Bộ luật dân sự, người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân mà gây thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Trong trường hợp này, phía chủ đầu tư đường cao tốc TP.HCM - Trung Lương đã có lỗi vô ý gây ra thiệt hại cho nông dân. Lâu nay nông dân vẫn trồng lúa cặp đường nên khi thiết kế, bố trí đèn cao áp cho đường cao tốc, phía chủ đầu tư buộc phải xem xét thực tế này để có sự sắp xếp phù hợp nhằm không gây thiệt hại cho người trồng lúa. Nếu sơ suất không làm đúng như thế và đã gây thiệt hại cho nông dân thì phía chủ đầu tư phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ và kịp thời các thiệt hại xảy ra. Nếu được xác định là đại diện cho chủ đầu tư đường cao tốc thì trước mắt Trung tâm Quản lý đường cao tốc phải đứng ra bồi thường thiệt hại cho nông dân. Sau đó, nếu xác định đơn vị thiết kế có lỗi trong việc gây ra thiệt hại thì trung tâm có thể yêu cầu đơn vị này hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật. Luật sư NGUYỄN ĐÌNH HÙNG (Theo Báo Tuổi Trẻ) |
Thứ Sáu, 3 tháng 12, 2010
Phải định hướng lại nghiên cứu giống lúa
PGS.TS Nguyễn Văn Bộ, Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp VN
LUAGAO - Dù trình độ nghiên cứu lúa của Việt Nam, cả lúa lai hay lúa thuần đều được nhiều nước trong khu vực đánh giá cao.
Hằng năm giống mới ra rất nhiều, thế mà lạ thay, Việt Nam đến nay vẫn chưa có được một giống lúa thương hiệu tầm thế giới... Để nhìn nhận một góc vấn đề,NNVN đã trao đổi với PGS.TS Nguyễn Văn Bộ, Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp VN (VAAS) về những tồn tại và định hướng nghiên cứu giống lúa trước mắt và lâu dài…
Quá nhiều thành ra loạn giống
Thưa ông, đúng là chúng ta đang có một bộ giống lúa vô cùng phong phú. Nhưng có ý kiến rằng toàn là giống du nhập nước ngoài chứ thực tế các viện tạo được giống đủ sức cạnh tranh rất ít. Ví dụ phía Bắc cơ bản là giống du nhập của Trung Quốc còn miền Nam là toàn nguồn của IRRI?
Mình phải hình dung thế này: Miền Bắc trước đây chúng ta từng có giai đoạn dài không quan hệ với Trung Quốc. Thời gian đó TQ họ đã bắt đầu làm lúa lai, lúa thuần của họ thì quá tốt rồi. Ta lúc đó đóng cửa, tự mày mò nghiên cứu, không tiếp cận được giống từ bên ngoài. Bộ giống rất nghèo nàn, miền Bắc quanh đi quẩn lại là Bao thai, Mộc Tuyền, sau này là Nông nghiệp 8. Chỉ khi hai nước quan hệ bình thường trở lại, lập tức bộ giống tốt của họ ào sang, thích nghi rất nhanh vì khí hậu miền Nam TQ và Bắc VN gần tương đồng, đương nhiên đánh bật giống lai tạo trong nước.
Tương tự ở phía Nam, sau giải phóng thì lúa quốc tế bắt đầu tràn vào phía Nam, đặc biệt bộ giống của Viện Lúa quốc tế IRRI, rất phù hợp. Có người so sánh ta với Thái Lan, rất khập khiễng, vì đất lúa của họ lớn 2,5 lần mình, dân số có 60 triệu, họ cần gì chạy theo lúa năng suất cao, nên lúa bản địa họ giữ được. Ta thì khác, phải đi theo con đường nâng cao năng suất để đảm bảo an ninh lương thực, nhất thiết phải du nhập giống lúa từ ngoài vào và đây là hướng đi đúng. Đã có hai lãnh đạo cao cấp hỏi tôi: tại sao ta dùng nhiều giống Trung Quốc thế mà không dùng giống Thái Lan chất lượng cao. Tôi nói rõ nguyên nhân trên và ta không thể học Thái Lan được, cụ thể không thể trồng giống lúa dài đến 170 ngày mà năng suất có 2,2 tấn/ha, gạo rất ngon. Giống của họ có thương hiệu vì chất lượng như vậy.
Cũng là chọn tạo từ nguồn giống bên ngoài, nhưng dường như các cơ quan nghiên cứu phía Nam làm tốt hơn, ra được nhiều giống tốt đóng góp cho sản xuất. Phía Bắc thì ngược lại, giống lúa chỉ là Khang dân, Q5, Bắc thơm, kể cả lúa lai nữa đều là giống "bê nguyên xi" từ Trung Quốc sang?
Phải nói cạnh tranh về giống miền Bắc khốc liệt hơn vì sát Trung Quốc, một đất nước có hệ thống nghiên cứu giống lúa hạng siêu. Giống Trung Quốc sang là đúng vì giống của họ quá tốt, đóng góp rất lớn cho sản xuất nên phải ghi nhận điều đó. Tất nhiên ta phải có con đường riêng và phải nói đã có những thành quả nhất định chứ không như một số ý kiến hoàn toàn phủ định. Cụ thể giống Xi 23 của PGS.TS Tạ Minh Sơn là 1 trong 10 giống chủ lực của đất nước. Hiện nay một số dòng mới ra đời như SH, AC… đã ra sản xuất diện rộng cho thấy hơn hẳn Khang dân và Q5.
Thực tế đến giai đoạn gần đây chúng ta mới ra được một vài giống lúa đủ sức cạnh tranh giống của Trung Quốc. Có phải vì nghiên cứu lúa của ta lạc hậu?
Theo mình không lạc hậu nhưng đúng là cần phải thay đổi phương pháp nghiên cứu. Chúng ta không nhất thiết phải ra thật nhiều giống như giai đoạn vừa qua; mỗi năm công nhận hàng chục giống. Nên chăng tìm một số giống chủ lực rồi chọn tạo theo hướng khắc phục nhược điểm, phát huy ưu điểm, đủ sức cạnh tranh. Để nhiều giống vừa khó quản lý mà làm hàng hóa cũng rất khó.
Ở nhiều nước, suất đầu tư nghiên cứu giống rất cao, để ra một giống mới có khi họ chi cả triệu đô la. Đầu tư nghiên cứu giống của ta thế nào?
Riêng nghiên cứu lúa, đề tài cấp Bộ giai đoạn 2005-2010 chừng 25 tỷ đồng; giai đoạn 2010-2015 còn thấp hơn, chưa đến 25 tỷ cả lúa lai và lúa thuần. Theo tôi là thấp, quá thấp là đằng khác. Với một nước xuất khẩu mỗi năm trên dưới 6 triệu tấn gạo thì đúng là đầu tư nghiên cứu lúa chưa tương xứng thật.
Có lần tôi nói với anh Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn rằng Chính phủ nên buộc DN XK gạo chiết khấu 1 tấn gạo ra 1 đô la dành cho nghiên cứu lúa thì chắc chắn nền sản xuất lúa của Việt Nam sẽ khác. Giả sử xuất khẩu 6 triệu tấn sẽ có 6 triệu đô la cho nghiên cứu, một con số trong mơ mà thành quả đem lại cả DN, nhà khoa học, nông dân đều hưởng lợi, lại giảm được áp lực về ngân sách.
Định hướng thế nào?
Hiện ngành nông nghiệp đã “xâu chuỗi” các Viện nghiên cứu lại với nhau với sự điều hành chung là VAAS. Đó cũng là thuận lợi để VAAS điều chỉnh để có định hướng nghiên cứu đúng đắn nhất là nghiên cứu giống. Ông cho biết một số kế hoạch trước mắt và lâu dài?
Chúng tôi sẽ không làm nhiều thứ nữa, phải nghiên cứu có trọng điểm với khoản đầu tư đúng tầm. Tôi lấy ví dụ ra 1 giống lúa mới, năng suất tăng 10%, diện tích sản xuất 1 vạn ha, làm lợi cho xã hội mỗi vụ khoảng 60-70 ngàn tấn thóc, tương đương gần 500 tỷ. Phải nhìn từ khía cạnh hưởng lợi xã hội này để có được những đầu tư xứng tầm.
Theo ông nghiên cứu giống giống cần nhất là gì? Phải là con người. Tôi từng hỏi anh Nguyễn Trí Hoàn, Viện trưởng Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm có được mấy người biết làm lúa lai thực sự ở Trung tâm NC lúa lai? Anh Hoàn tìm mãi và đếm không đủ trên đầu ngón tay. Cơ chế, công nghệ cần phải thay đổi, nhưng trước tiên phải là đào tạo. |
Nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn thời còn đảm nhiệm chức vụ, từng bảo tôi: Các anh muốn bằng cách gì cũng được, phải làm sao chỉ cần có 2 triệu ha đất thôi mà vẫn sản xuất được 50 triệu tấn thóc. Là những nhà khoa học, chúng tôi rất suy nghĩ điều này. Đấy là điều khó khăn nhưng không phải là điều không thể.
Chúng ta bắt đầu có nhiều phương hướng tiếp cận nghiên cứu lúa mới. Ví dụ Viện Di truyền NN đã lập được phòng giải mã gen lúa mà cán bộ khoa học đang được đào tạo tại Anh. Tôi tin khi ta nắm bắt được bộ gen lúa thì việc tạo giống lúa theo đúng ý đồ sẽ dễ dàng hơn nhiều.
Một lần nữa nhắc lại, hướng của chúng tôi là các nhà khoa học phải ngồi lại với nhau, nghiên cứu có trọng điểm, chứ không phải ông nào cũng nhảy vào làm giống, bạ đâu làm đấy thì còn lâu mới có giống tầm quốc gia chưa nói thương hiệu thế giới.
Xin cảm ơn ông!
(Theo Báo NNVN)
Thứ Hai, 29 tháng 11, 2010
Chế phẩm sinh học dùng cho Lúa
2. Ức chế sự sinh sản và phát triển của sâu bọ, vi sinh vật có hại. Gia tăng nhóm vi sinh vật có ích trong đất và các thiên địch.
3. Thúc đẩy lúa sinh trưởng và phát triển tốt, nâng cao hệ miễn dịch của cây, giảm tỷ lệ sâu bệnh.4. Tăng năng suất và phẩm chất.5. Lúa trổ bông đều, bông dài, hạt to chắc, sáng mẩy.6. Kéo dài thời gian bảo quản.7. Hạt gạo khi ăn có vị đặc biệt, ngọt, thơm.8.Sử dụng sản phẩm Active Cleaner thường xuyên sẽ giảm sử dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu.
- Sau sạ 30 ngày : dùng Active Cleaner dạng lỏng pha loãng 300 lần, phun ướt đều trên bề mặt lá.
- Giai đoạn lúa được 60-65 ngày : tiếp tục phun 3 lần, định kỳ 7 ngày/lần. (Kết hợp phun Active Cleaner khi bón phân gốc hoặc khi phun phân bón lá nhưng liều lượng phân chỉ sử dụng 70-80% so với bình thường).
- Sử dụng lúc sáng sớm hoặc chiều mát (8-9 giờ sáng, chiều từ 16h-17h). Tránh sử dụng lúc trời nắng nóng, trời sắp mưa hoặc vừa mưa xong.
- Active Cleaner có thể phối hợp sử dụng chung với thuốc trừ sâu (pha chung trong vòng 24 giờ).
- Dạng bột: có 2 loại: gói 1kg, bao 25 kg.
- Dạng lỏng: có 2 loại: chai nhựa 1 lít, thùng nhựa 20 lít.
Thứ Ba, 23 tháng 11, 2010
MỘT SỐ LƯU Ý VỀ THỜI VỤ VÀ CƠ CẤU GIỐNG LÚA SẢN XUẤT
Là vùng luôn gánh chịu những ảnh hưởng nặng nề của thiên tai, nên sản xuất lúa gạo có tầm quan trọng đặc biệt để đảm bảo an ninh lương thực ổn định đời sống cho người dân trong vùng. Trong cơ cấu mùa vụ, sản xuất lúa vụ Đông Xuân là vụ có diện tích lớn và thường đạt năng suất cao nhất trong năm nên nó có vai trò đặc biệt quan trọng quyết định sản lượng lương thực của vùng.
Theo số liệu điều tra từ các Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn năm 2009, diện tích lúa 386.929 ha, chiếm 5,2 % tổng diện tích lúa cả nước; Năng suất trung bình năm (TB) 49,9 tạ/ha, thấp hơn năng suất của cả nước 2,4 tạ/ha. Trong đó, diện tích lúa vụ Đông Xuân 174.834 ha, chiếm 45 % tổng diện tích cả năm của vùng; Năng suất TB 57 tạ/ha.
Sản xuất lúa vụ Đông Xuân tại các tỉnh Nam Trung bộ có nhiều lợi thế như thời gian sản xuất kéo dài từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 nên cây lúa có thời gian dài hơn để tích lũy chất khô và các bộ phận kinh tế của cây. Trong khi nền nhiệt độ tăng dần từ đầu vụ đến cuối vụ Đông Xuân, biên độ nhiệt ngày và đêm chênh lệch nhau khá cao từ 6-12 0C; cường độ ánh sáng dồi dào, nhất là vào cuối vụ; cường độ bốc hơi nước thường thấp hơn vụ Hè Thu nên đã giúp cho cây lúa tích lũy chất khô về hạt rất tốt, khả năng đạt năng suất cao nhất trong năm là có cơ sở. Tuy vậy, thực trạng sản xuất lúa tại các tỉnh trong vùng vụ Đông Xuân thường thấp và bấp bênh không ổn định, nhiều nơi còn mất mùa cục bộ.
Trong 11 năm từ 2000-2010, sản xuất lúa vụ Đông Xuân tại các tỉnh Nam Trung bộ có số vụ năng suất thấp hơn năng suất bình quân chung như sau:
Đà Nẵng có 5/11 vụ; Quảng Nam có 3/11 vụ, Quảng Ngãi có 4/11 vụ, Bình Định có 5/11 vụ; Phú Yên có 4 /11 vụ và Khánh Hòa có 7/11 vụ.
Nguyên nhân sâu xa là do một số địa phương trong vùng còn sử dụng cơ cấu 3 vụ lúa/năm nên đã co kéo về thời gian, hoặc cơ cấu 2 vụ lúa/năm nhưng do bố trí không đúng lịch thời vụ gieo sạ thường nôn nóng đẩy thời vụ gieo sạ vụ Đông Xuân lên sớm để kịp gieo sạ lúa vụ 3, sử dụng không đúng cơ cấu giống lúa theo trà nên khi cây lúa vào giai đoạn làm đòng, trổ bông luôn gặp điều kiện thời tiết bất lợi đã ảnh hưởng lớn đến năng suất cuối cùng. Mặt khác còn có nguyên nhân trực tiếp làm ảnh hưởng đến năng suất lúa vụ Đông Xuân tại các tỉnh trong vùng đó là:
Mưa muộn trong tháng 12 của năm trước, do mưa tập trung có khi hình thành lũ sớm đã gây ảnh hưởng đến trà gieo sớm sẽ làm trôi dạt giống thời điểm gieo sạ và ức chế sinh trưởng phát triển cây lúa thời kỳ cây con;
Thời tiết giá lạnh từ tháng 1 đến 15/3, do nhiệt độ xuống thấp dưới 18-20 0C, ẩm độ không khí tuyệt đối thấp <>
Hạn hán diễn ra mạnh từ tháng 2 đến tháng 5, nặng nhất là từ tháng 2-5. Hạn kết hợp nhiệt độ tăng nhanh trên 30 0C đã làm cạn kiệt nguồn nước tưới cho lúa. Hạn hán cũng tạo nên môi trường nắng ẩm đây là một trong những điều kiện môi trường rất thích hợp cho rầy nâu, rầy lưng trắng có cơ hội phát triển nhanh và có nguy cơ lan rộng thành dịch gây hại lớn cho lúa vụ Đông Xuân trong vùng.
Từ thực tiễn sản xuất lúa trong nhiều năm qua, các tỉnh trong vùng đã đồng loạt chuyển đổi hầu hết diện tích từ 3 vụ lúa/năm bấp bênh sang trồng 2 vụ/năm ăn chắc; Nhờ việc bố trí lại thời vụ gieo cấy và sử dụng cơ cấu giống lúa hợp lý, nên sản lượng lúa 2 vụ lúa/năm vẫn đạt cao từ 11-13 tấn/năm, tương đương sản lượng lúa gieo cấy 3 vụ lúa/năm, nhưng lại giảm được gần 1/3 chi phí đầu tư và hiệu quả kinh tế tăng cao. Đây cũng là lý do có cơ sở khoa học và thực tiễn mà nông dân các tỉnh trong vùng đã thực hiện thành công trong chuyển dịch mùa vụ, cơ cấu giống lúa trong hơn 20 năm qua.
Khuyến cáo khung thời vụ gieo cấy lúa trong vụ Đông Xuân như sau:
- Đà Nẵng: lúa trổ bông an toàn từ ngày 25/3-10/4; thu hoạch lúa từ ngày 25/4-10/05. Thời vụ gieo sạ: Nhóm giống lúa dài ngày: gieo sạ từ ngày 25/12-05/01; Nhóm giống lúa ngắn, trung ngày: gieo sạ từ ngày 01-15/01.
- Quảng Nam: lúa trổ bông an toàn từ ngày 20/03 đến 05/4; thu hoạch lúa từ ngày 25/04 đến 05/5. Thời vụ gieo sạ: Nhóm giống lúa ngắn, trung ngày: gieo sạ từ ngày 01-20/01; Nhóm giống lúa dài ngày: gieo sạ từ ngày 25/12-05/01.
- Quảng Ngãi: lúa trổ bông từ ngày 20/03 đến 05/4; thu hoạch lúa từ ngày 25/04 đến 05/5. Thời vụ gieo sạ: Nhóm giống lúa dài ngày: gieo sạ từ ngày 25-30/12; Nhóm giống lúa ngắn, trung ngày: gieo sạ từ ngày 01-15/01.
- Bình Định
+ Cơ cấu 2 vụ lúa/năm: lúa trổ bông an toàn từ 15/3-30/3 và thu hoạch từ 15-30/4. Thời gian gieo sạ: Nhóm giống lúa ngắn, trung ngày: gieo sạ từ ngày 05-15/01; Nhóm giống lúa dài ngày: gieo sạ từ ngày 25/12-05/01.
+ Cơ cấu 3 vụ lúa/năm: lúa trổ bông an toàn từ 25/2-5/3. Tùy từng nhóm giống, thời gian gieo sạ từ 05/12-15/12 và thu hoạch từ 25/3-5/4;
- Phú Yên: lúa trổ bông an toàn từ Lúa trổ bông an toàn từ 15/3-30/3 và thu hoạch từ 15-30/4. Thời gian gieo sạ: Nhóm giống lúa ngắn, trung ngày: gieo sạ từ ngày 05-10/01; Nhóm giống lúa dài ngày: gieo sạ từ ngày 20-30/12.
- Khánh Hòa: lúa trổ bông an toàn từ 15/3-30/3 và thu hoạch từ 10-25/4. Thời gian gieo sạ: Nhóm giống lúa ngắn, trung ngày: gieo sạ từ ngày 25/12-05/01; Nhóm giống lúa dài ngày: gieo sạ từ ngày 10-30/12.
Về cơ cấu giống lúa gieo cấy vụ Đông Xuân như sau:
- Đà Nẵng: gieo sạ các giống lúa chủ lực NX30, Xi23, ĐB6, Q5;
- Quảng Nam: gieo sạ các giống lúa chủ lực NX30, Xi23, X21, TH1, VĐ20, CH5; BTE1, Nhị ưu 838, Nghi hương 2308, TN15, TH3-3. Sản xuất thử các giống lúa triển vọng: NP12, NP11, PC10, P13, ĐT34, VS1, BM207; QH5, H94017, Dương Quang 18, BIO404, Vân Hương 7, Nghi hương 305;
- Quảng Ngãi: gieo sạ các giống lúa chủ lực NX30, Xi23, BM9855, Q5, Khang dân đột biến, ĐV108, ĐH99-81, HT1; Nhị ưu 838, TH3-3, BTE1. Sản xuất thử các giống ML203, PC10, ĐT34, VS1, BM207; H94017, QH5, Dương Quang 18, BIO404, Nghi hương 305;
- Bình Định
+ Cơ cấu 2 vụ lúa/năm: các giống lúa chủ lực Khang dân đột biến, ĐV 108, Q5, ĐB6, TBR1, SH2, Xi23, BIO404, Dưu 527, Nghi hương 2308, N.ưu 69, Nhị ưu 838, BTE1. Các giống lúa sản xuất thử ĐT34, VS1, QH5 Nghi hương 035.
+ Cơ cấu 3 vụ lúa/năm: các giống lúa chủ lực Khang dân đột biến, ĐV 108, SH 2, ML48, ML202, ML 214, ĐB6, TBR1, BIO404, Dưu 527, Nghi hương 2308, N. ưu 69, Nhị ưu 838, PAC807.
- Phú Yên: các giống lúa chủ lực ML68, ML4, LD10, TH330, MTL250, ML48, OMCS2000, ĐV108, TH28, OMCS97, ML108, LTD93-1, OM3536, TX93, OM1490, KD18, Q5, ĐB6, HT1, OM2695-2, TH6, ML202, ML216, ML211, ML216, ML213, TBR1; IR17494, IR67032. Các giống lúa sản xuất thử ĐT34, VS1, QH5, Nghi hương 2308, Nghi hương 035, Bio404, Nhị ưu 838.
- Khánh Hòa: các giống lúa chủ lực ML48, TH6, HT1, ĐV108, ML202, Khang dân đột biến, TBR1; IR 17494. Các giống lúa sản xuất thử ĐT34, VS1, ML214; Xi23, NX30, QH5, Nghi hương 2308, Bio404, Nhị ưu 838.
Một số lưu ý trong thâm canh lúa tại các tỉnh trong vùng
Trong điều kiện hiện nay do chịu tác động rất lớn về những đổi khí hậu toàn cầu nên các tỉnh Nam Trung bộ cần tiếp tục cải tiến thời vụ và sử dụng cơ cấu giống lúa phù hợp để chủ động sản xuất vụ Đông Xuân đạt kết quả cao;
Tiếp tục tuyển chọn các giống lúa mới năng suất cao; chất lượng tốt; ưu tiên các giống kháng rầy, kháng bệnh đạo ôn và bệnh bạc lá; các giống lúa chịu mặn, úng và chịu phèn để ứng phó với biến đổi khí hậu tại các địa phương ven biển của các tỉnh Nam Trung bộ;
Thực hiện chương trình quản lý dịch hại tổng hợp và chương trình 3 giảm 3 tăng trong thâm canh tăng năng suất lúa;
Đẩy mạnh sản xuất lúa lai, nhất là các giống lúa lai có chất lượng gạo tốt, cơm ngon, đưa diện tích lúa lai vào gieo cấy trong vùng từ 20-25 % tổng diện tích gieo cấy lúa nhằm nâng cao sản lượng lương thực để đáp ứng nhu cầu của nhân dân trong vùng;
Cần tăng cường công tác thanh kiểm tra định kỳ, công tác quản lý nhà nước về sản xuất, chứng nhận chất lượng và kinh doanh giống lúa tại các tỉnh trong vùng hiện nay và thời gian tới.
(Theo Báo NNVN)
Thứ Hai, 15 tháng 11, 2010
Gạo xuất khẩu: Giá tốt vẫn thiệt!
Theo Hiệp hội Lương thực VN (VFA), tính đến 5/11/2010, lượng gạo XK của VN đã gần cán mốc 6 triệu tấn. Kết quả XK gạo của 5 ngày đầu tháng 11, với 73.652 tấn gạo (trị giá 34,104 triệu USD) đã nâng tổng sản lượng gạo XK từ đầu năm lên 5,911 triệu tấn, đạt giá trị 2,505 tỷ USD. Nhìn vào đơn giá bình quân 423,78USD/tấn gạo XK, tuy chưa thể hài long, song nhìn lại kết quả XK gạo và giá bình quân 407,09USD/tấn của năm 2009, thì đây cũng là điều đáng mừng - XK ít hơn hàng trăm ngàn tấn nhưng kim ngạch cao hơn so với cả năm ngoái và thời gian XK vẫn còn gần 2 tháng.
Tuy nhiên, điều nghịch lý là, ở một đất nước nông nghiệp mà lúa gạo vẫn chiếm tỷ trọng khá lớn và quan trọng như VN, lại đã hai lần “cứu” nền kinh tế khi gặp khủng hoảng, nhưng người làm ra lúa gạo chẳng thể “cười như được mùa” khi quá trình vận động của lúa gạo vẫn còn rất nhiều điều bất cập.
Khi giá gạo xuất khẩu tốt, người nông dân cũng không được lợi
Giáo sư C. Peter Timmer thuộc Trung tâm phát triển toàn cầu (Center for Global Development), chuyên gia hàng đầu về thị trường lúa gạo thế giới cho rằng: “Một lượng lớn gạo mua bán trên thế giới, trong đó có cả ở VN, được giữ bí mật về giá. Nông dân không thể đoán biết thị trường gạo tương lai nếu cung cầu và giá gạo không được minh bạch. Và họ thường bị thiệt ngay cả khi thế giới giá tốt”. Đó là bởi, theo vị giáo sư này, chính phủ của hầu hết các quốc gia sản xuất lúa gạo đã can thiệp vào hạt gạo, xem nó như mặt hàng chiến lược an ninh lương thực, sự ổn định sẽ gắn liền với chính thể. Do vậy, hệ luỵ từ chính sách tiềm ẩn yếu tố “chính trị hoá hạt gạo” đã can thiệp vào hệ thống phân phối, XNK khiến cho giá lúa gạo nội địa thường bị điều tiết bởi tính chủ quan của nhà nước hơn là theo quy luật thị trường; bởi lúc đó, hạt gạo phải gánh trách nhiệm bình ổn giá cả - nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự bất ổn.
Theo các chuyên gia, Nghị định số 109/2010/NĐ-CP ngày 4/11/2010, có hiệu lực từ 1/1/2011) về kinh doanh xuất khẩu gạo do Thủ tướng Chính phủ ban hành sẽ tạo ra thay đổi lớn trên thị trường lúa gạo. Đầu tiên là cơ cấu lại thành phần DN tham gia xuất khẩu và tiếp theo là chuẩn bị cho ngành lúa gạo trước làn sóng “đổ bộ” của thương nhân nước ngoài khi VN mở cửa thị trường gạo vào đầu năm 2011.
Nghị định buộc các DN có trách nhiệm hơn với nông dân, bằng chính việc đầu tư vào công đoạn chế biến, dự trữ nhằm nâng cao giá trị hạt gạo thay vì chỉ nhăm nhăm tìm kiếm lợi nhuận. Điều đó tạo ra sức nâng cho khu vực nông thôn, và đặc biệt là nông dân vốn còn yếu kém về nhiều mặt.
Theo 24h.com
Chủ Nhật, 7 tháng 11, 2010
Doanh nghiệp nào thiết tha sản xuất lúa giống?
SX giống lúa F1 Nhị ưu 838 trên cánh đồng Mường Lò
LUAGAO - So với hàng chục tổ hợp lúa lai Trung Quốc, hai giống lúa lai mang thương hiệu Made in Việt Nam là TH 3-3 và VL20 được nông dân chấp nhận, cạnh tranh được. Còn lại, nhiều giống lúa lai do các nhà khoa học Việt Nam lai tạo thì sớm chết yểu. Một câu hỏi đặt ra: Các nhà khoa học Việt Nam kém tài hay các DN không thiết tha SX giống?
Bài viết này chúng tôi không lạm bàn chuyện các nhà khoa học Việt Nam kém tài, việc này để các nhà khoa học lên tiếng. Bởi, lai tạo thành công một giống lúa liên quan tới nhiều vấn đề, không chỉ tài năng niềm say mê của nhà khoa học mà còn kinh phí, máy móc, trang thiết bị cho nghiên cứu và chế độ đãi ngộ nhà khoa học. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập một vấn đề: DN nào thiết tha SX lúa giống?
Chúng tôi thử đưa ra một vài con số ví dụ: Trung bình mỗi tỉnh có từ 2- 3 DN cung ứng giống, 20-30 cửa hàng bán giống, thì cả nước sẽ có khoảng 190 đơn vị kinh doanh giống (lớn) và trên 1.800 cửa hàng bán giống. Trong khi đó những DN sản xuất giống, nhất là giống lai chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Điều này lý giải vì sao các giống ngô lai, lúa lai ngoại đang làm mưa làm gió trên thị trường Việt Nam. Họ đưa ra bất cứ giá nào (tuỳ thuộc vào năng suất, chất lượng) người nông dân cũng phải chấp nhận. Mơ ước của nông dân Việt Nam về giá giống rẻ là điều xa vời, các công ty giống ngoại quốc sẽ còn thao túng thị trường Việt Nam đến khi nào thì không ai đoán được.
Ông Nguyễn Thanh Lâm - PGĐ TTKN Quốc gia đã phát biểu những lời gan ruột sau khi đi thăm cánh đồng SX lúa lai LC25, LC212, LC70 do Trung tâm Giống NLN Lào Cai chọn tạo: Chúng ta đang khuyến khích, lôi kéo các DN tham gia nghiên cứu, SX lúa giống. Nhưng nhiều DN không thiết tha, họ chỉ lo mua và bán giống. Sản xuất giống lúa lai đòi hỏi công nghệ cao và tốn kém rất nhiều tiền bạc, Lào Cai là một tỉnh nghèo nhưng đã dành một phần kinh phí đáng kể cho việc nghiên cứu, chọn tạo và tổ chức SX thành công giống lúa lai là việc làm rất đáng biểu dương…
TTGNLN Lào Cai từ nhiều năm nay đã phối hợp với một số đơn vị nghiên cứu của nước ngoài lai tạo, SX một số tổ hợp lai. Năm 2009 SX được 315 tấn lúa lai F1: LC25, LC212, VL20, năm 2010 SX được gần 400 tấn giống lúa lai F1 các loại. Giống lúa LC212 đã được Cty CP Giống cây trồng Trung ương ký biên bản ghi nhớ mua bản quyền, nhưng với rất nhiều lý do đến nay việc mua bán đó vẫn dừng ở trên giấy.
| Từ năm 2008 Viện KHKTNLN miền núi phía Bắc triển khai dự án “Tăng cường năng lực cải tiến giống và SX lúa vùng cao” tại các tỉnh: Hà Giang, Bắc Kạn, Yên Bái, Phú Thọ giúp các hộ nông dân SX một số giống lúa thuần chất lượng cao: N46, T10, Chiêm hương, HT1, BT13, DT122, KD18, Ải Lùn 32… là những giống lúa thuần do các nhà khoa học, các viện nghiên cứu lai tạo, chọn lọc từ nhiều vùng sinh thái khác nhau. Khi dự án chấm dứt thì các mô hình đó cũng dần teo đi, nông dân lại đi tìm mua các giống từ các đại lý, cửa hàng. |
Trao đổi với chúng tôi, lãnh đạo một số DN cung ứng giống chẳng cần giấu giếm: SX lúa giống không dễ dàng gì, chi phí lớn, thời gian quay vòng vốn lâu mà lờ lãi chẳng được bao nhiêu, trong khi đó rủi ro lại rất lớn. Mua và bán giống thời gian quay vòng vốn nhanh, đơn vị SX giống bảo hành cho mình nên không ngại lắm. Một số giống chúng tôi SX chỉ để phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương, giống như chuồn chuồn đập nước, chứ không thể liều lĩnh được…
Thị trường giống lúa lai mấy năm nay luôn luôn nóng, chúng ta đang trong vòng xoáy của sự thiếu hụt nguồn giống chất lượng cao, sự lệ thuộc vào nước ngoài khiến nông dân phải chịu giá cắt cổ. Bao giờ Việt Nam mới chủ động được nguồn giống? Bao giờ các DN mới thiết tha SX giống? Đó là những điều không dễ dàng trả lời được ngay.
Thứ Năm, 4 tháng 11, 2010
Giống lúa lai Trung Quốc đang vống lên
LUAGAO - Đến hẹn lại lên, bắt đầu từ tháng 11 các DN cung ứng giống của Việt Nam lại lục tục kéo nhau lên cửa khẩu Lào Cai hoặc Lạng Sơn, Móng Cái (Quảng Ninh) để thương thảo mua các loại giống lúa lai của Trung Quốc.
Theo dõi thị trường giống lúa mấy năm nay các DN Việt Nam đều ở thế yếu, nghĩa là không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận giá lúa do các DN của TQ đưa ra, giá lúa giống vụ xuân 2011 đang được phía đối tác thổi phồng…
Sự lệ thuộc giống lúa lai nhập khẩu từ TQ của nhiều địa phương và các DN kinh doanh giống ngày càng nhiều hơn. Những năm trước đây cửa khẩu Lào Cai là nơi nhập khẩu chính các giống lúa lai của Trung Quốc, có năm nhập đến 10.000-12.000 tấn. Các DN nhập khẩu giống của Việt Nam được các đơn vị SX giống của TQ mời đi tham quan, tiệc tùng, quà cáp đủ kiểu, cốt để mua giống của họ. Các DN phía TQ cũng rất thoáng, họ cho “gửi giá” thoải mái, nhờ thế mà nhiều GĐ DN phía Việt Nam giầu bốc lên nhanh chóng sau vài vụ nhập khẩu giống. Bởi giá lúa giống cao bao nhiêu thì nông dân chịu, chứ DN bán giống có phải chịu đâu?
Cty Giống cây trồng Thịnh Dụ chưa có người giao dịch |
Mấy năm nay các DN phía TQ bắt đầu tãi đầu mối bán hàng sang cửa khẩu Móng Cái, Lạng Sơn chứ không chỉ bán qua cửa khẩu Lào Cai, khiến cho các DN của Việt Nam buộc phải chạy theo họ. Vì thế lượng giống lúa lai nhập qua cửa khẩu Lào Cai giảm xuống còn 7.000 rồi 6.000 tấn/năm, năm 2010 còn khoảng 3.500 tấn, trong khi đó cửa khẩu Móng Cái và Lạng Sơn lượng giống nhập qua đó lại tăng.
Khi nông dân và DN Việt Nam đã “nghiện” các giống lúa lai của TQ, thì khi đó giá giống được đẩy lên cao vút trời, xin nêu ví dụ: Giá lúa lai vụ xuân 2008: Giống phổ biến Nhị ưu 838 giá 10 nhân dân tệ/kg; vụ xuân 2009 giá lên 12-13 tệ/kg, tương đương 30.000-35.000đ/kg, còn một số giống độc quyền thì giá thấp nhất cũng 15 tệ/kg, tương đương 40.000-42.000đ/kg; vụ xuân 2010, Nhị ưu 838 giá trung bình 15 tệ/kg, nhưng thanh toán bằng đô la 1,8 USD/kg; vụ mùa 2010 giá Nhị ưu 838 được đẩy lên 18,5 tệ/kg.
Tất cả các DN của TQ đều thống nhất giá bán cho các DN của VN như vậy. Tuỳ từng DN có mối quan hệ “hữu hảo” lâu đời thì được bớt 1-1,5 giá. Họ kêu khan hiếm giống với những lý do đã quá quen thuộc: Động đất, hạn hán, mưa bão… nên mất mùa, một số tổ hợp giống phía TQ đã bỏ, chỉ SX bán cho Việt Nam thôi, nên giá thành cao. Ví như Nhị ưu 838 các DN phía TQ đều nói: Nông dân TQ không trồng giống lúa này, nên các đơn vị SX giống cũng không làm, họ làm để bán cho Việt Nam thôi…
Cty Giống Tứ Xuyên thì cửa mở he hé |
Mới đây PV NNVN đã có mặt tại Hà Khẩu tìm hiểu giá giống lúa lai. Cùng thời gian này mọi năm thì các văn phòng bán giống của TQ đã mở cửa, còn năm nay thì cửa đóng then cài, một số văn phòng có người nhưng không có phiên dịch, nên “sư bố tủng” (tôi không hiểu). Bà Nguyễn Thị Yên, GĐ Cty CP VTNN Lào Cai cho biết: Trước đây khoảng cuối tháng 9 các DN của TQ đã gọi điện cho mình nheo nhéo gạ mua hàng, hai năm nay thì không. Cuối tháng 10 tôi gọi điện cho mấy DN bán giống vào số điện thoại Việt Nam và TQ thì họ chả thèm nghe, còn người nghe thì trả lời chủng chẳng: Năm nay chưa biết thế nào đâu, tôi đang ở Tứ Xuyên nhá…; nghe mà tức.
Bà Yên nói thêm: Thứ bảy vừa rồi tôi có sang làm việc với Cty Giống Tân Tân, là bạn hàng truyền thống của Lào Cai, họ trả lời thế này: Năm nay thu hoạch gặp mưa, giống bị thối nhiều, Cty chỉ có khoảng 500 tấn Nhị ưu 838, nhiều DN Việt Nam đặt hàng, nên cũng chỉ bán cho mỗi DN một ít, giá 20 tệ/kg. Các DN Afghanistan mua tại ruộng đã 19 tệ/kg rồi, không phải kiểm nghiệm như ở Việt Nam, thanh toán bằng nhân dân tệ, chứ không phải bằng đô la nhá…
Ông Nguyễn Văn Vững, nguyên là GĐ TTG Yên Bái được một DN mời làm cố vấn đi thương thảo mua bán giống cho biết: Cty Tân Tân chỉ tiếp từng DN một, họ cho biết năm nay Cty chỉ có 280 tấn Nhị ưu 838, giá 20 tệ/kg nếu không mua thì trả lời ngay để họ bán cho DN khác. Nghĩa là họ chả cần mình, giá cả là như vậy, qui đổi ra tiền Việt Nam hiện đang là 3.050đ/tệ, thì mỗi cân giống trên 60.000đ, đắt quá trời.
Chúng tôi liên lạc với phiên dịch của Cty Long Bình, được người này cho biết: Năm nay lượng giống XK sang Việt Nam giảm 70%, Nhị ưu 838 có khoảng 600 tấn, Nhị ưu 63 khoảng 60 tấn, Nghi Hương 305 khoảng 80 tấn. GĐ kinh doanh quốc tế đang ở Tứ Xuyên chưa về Hà Khẩu nên chưa biết giá cả thế nào…Giá giống lúa lai của TQ đang được các đối tác thổi lên ngất trời, nhất là tình hình lũ lụt miền Trung khu vực SX lúa giống lớn của Việt Nam bị thiệt hại, càng tạo cơ hội cho các DN phía TQ làm nâng giá.
(Theo Báo NNVN)
Chủ Nhật, 24 tháng 10, 2010
Giống lúa lai SL8H-GS9
LUAGAO - Với mục tiêu luôn áp dụng TBKT vào sản xuất để tăng cao năng suất chất lượng cây trồng, bước vào đầu vụ mùa này Trạm BVTV & GCT Nghĩa Đàn, Nghệ An đã đưa giống lúa lai SL8H-GS9 vào gieo trồng khảo nghiệm. Kết quả năng suất đã cho thu hoạch được 7,08 tấn/ha, cao hơn giống lúa lai truyền thống 1,74 tấn/ha.
Hội thảo mô hình ngày 20/10/2010 được tổ chức trên đồng đất của xã Nghĩa Thắng, Nghĩa Đàn đã thu hút hàng trăm cán bộ xã, HTX và bà con nông dân thuộc hai đơn vị ở thị xã Thái Hoà và huyện Nghĩa Đàn. Trạm trưởng Trạm bảo vệ thực vật và giống cây trồng Nghĩa Đàn, ông Nguyễn Viết Trung cho biết: Giống lúa lai 3 dòng SL8H-GS9 được lai tạo bởi tập đoàn SL Agritech Philipines, đơn vị nhập khẩu và phân phối tại Việt Nam là Cty CP Đại Thành (trụ sở đóng ở Liên Bão - Tiên Du - Bắc Ninh). Giống lúa lai 3 dòng này đã được Bộ NN-PTNT công nhận là giống lúa tạm thời từ tháng 4/2010. Đây là cuộc khảo nghiệm lần đầu tiên tại tỉnh Nghệ An.
Ông Trung tiếp tục cho biết: Giống lúa lai SL8H-GS9 Trạm gieo trồng vào ngày 26/6/2010, với mật độ gieo cấy 40-45 khóm/m2. Giống đối chứng là lúa lai Nhị ưu 838. Trong thời gian gieo cấy, cây lúa gặp phải nắng hạn gay gắt, trong quá trình sinh trưởng thời tiết tiếp tục gây bất thuận nặng nề, sâu bệnh nói chung và sâu cuốn lá nói riêng đã bùng phát trên diện rộng, đến khi lúa trổ bông lại gặp phải mưa lũ. Những yếu tố đó đã làm ảnh hưởng rất lớn tới năng suất và sản lượng cây trồng.
Tuy nhiên qua theo dõi và đánh giá tại ruộng, hội thảo đã đưa ra kết quả: Thời gian sinh trưởng giống lúa SL8H-GS9 tương đương với lúa Nhị ưu 838 (từ 105-106 ngày). Đường kính gốc rạ SL8H-GS9 là 7 mm, Nhị ưu 5 mm. Chiều dài bông SL8H-GS9 23,5cm, Nhị ưu 22 cm. Chiều cao cây lúa SL8H-GS9 115 cm, Nhị ưu 110 cm. Trên thực tế giống lúa SL8H-GS9 đã thể hiện tính nổi trội hơn so với giống lúa Nhị ưu 838 như tính chống đổ khá, chống chịu tốt với điều kiện thời tiết bất thuận, khả năng đẻ nhánh khoẻ, tập trung, từ cấy 1 dảnh/khóm đến thu hoạch có 6 bông hữu hiệu/khóm.
Về sâu bệnh, trong vụ này do thời tiết bất thuận nên giống lúa SL8H-GS9 đã bị nhiễm nhẹ một số bệnh như sâu đục thân, sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu. Đặc biệt giống lúa mới này có tính chống chịu rất tốt với bệnh bạc lá. Trong lúc đó giống lúa Nhị ưu 838 bị nhiễm nặng sâu cuốn lá và nhiễm nặng bệnh bạc lá. Đối với năng suất, qua thống kê tại các nhóm nông dân kiểm tra trên ruộng khảo nghiệm đã cho thấy giống lúa SL8H-GS9 đã cho thu hoạch được 354 kg/sào (500m2), trong khi đó ruộng đối chứng Nhị ưu 838 chỉ thu được 267kg/sào.
Như vậy trong lần đầu tiên khảo nghiệm giống lúa SL8H-GS9 đã cho năng suất cao hơn giống lúa Nhị ưu 838 là 87 kg/sào(tức là cao hơn 1,74 tấn/ha.) Theo lý thuyết khuyến cáo nếu thời tiết thuận lợi và thâm canh tốt thì năng suất lúa LS8H-GS9 sẽ cho thu hoạch đạt 14 tấn/ha. Về chất lượng, qua sản phẩm do Cty CP Đại Thành cung cấp đã cho thấy giống lúa mới này có hạt gạo dài, cơm dẻo, vị ngọt đậm và mùi thơm đầy hấp dẫn. Theo đó Trạm BVTV & GCT Nghĩa Đàn đã lập kế hoạch tiếp tục nhân rộng vùng khảo nghiệm, để khẳng định tính ưu việt của lúa lai SL8H-GS9.
(Theo Báo NNVN)
Thứ Hai, 11 tháng 10, 2010
Đã có giống lúa hàng hóa cho miền Bắc
LUAGAO - Các nhà chọn giống phía Bắc luôn mong mỏi tìm một bộ giống lúa chất lượng đủ sức thay thế giống Bắc thơm 7, HT1; hay một giống thích ứng rộng, dễ tính, thay thế giống Khang dân, là giống chủ lực trong gieo cấy nhưng đã tồn tại quá lâu đang dần thoái hóa. Giống lúa thuần mới VS1 dường như đáp ứng tương đối các yêu cầu trên: Chất lượng cao, thích ứng rộng, kháng sâu bệnh tốt. Đây là sản phẩm hợp tác giữa Viện Di truyền NN và Cty CP giống cây trồng TW, đang được kỳ vọng.
Trên cánh đồng rộng 20 ha lúa VS1 của HTXNN Thanh Lãng (Bình Xuyên – Vĩnh Phúc) vụ mùa này nhìn không lẫn vào đâu được. Đồng lúa vàng màu lá gừng, phẳng phiu, không một bụi đổ ngã; nếu vạch từng bông thì hạt nào ra hạt nấy rất sáng chắc. Chủ nhiệm HTX Thanh Lãng Nguyễn Huy Kiên kéo chúng tôi cùng ra đồng. Vừa một chốc đã có mấy nông dân từ đâu xúm đến vị chủ nhiệm đòi mua giống cho vụ sau.
Bà Tèo, nông dân trong xã, nhà có đến 8 sào lúa cấy, nói: Các bác đưa được giống đâu về tốt quá. Mỗi lần đi qua, tôi nhìn lại mê sạch sẽ cả con mắt. Vụ này nhà tôi cấy Khang dân, rầy xơi hết, phun đến 2 lần thuốc lúa vẫn cháy rầy. Năm nay lúa nhiễm rầy nặng nhiều nhà mất ăn. Giá như có giống kháng rầy tốt như loại lúa này nhà nông chúng tôi đỡ cực hơn không…
Quả thật vụ mùa năm nay miền Bắc bị dịch rầy hại nặng nhất là cuối vụ. Cũng như nhiều tỉnh khác, Vĩnh Phúc cơ cấu lúa mùa chủ lực vẫn là Khang dân 18. Phải nói nếu thời tiết thuận, ít sâu bệnh thì Khang dân 18 cũng sẽ không đến nỗi nào vì nó vốn dễ tính, có lười chăm bón vẫn đạt 5-6 tấn/ha, vì vậy bao năm nay nông dân đã quen thuộc với giống lúa được coi dành cho con nhà nghèo này. Tiếc rằng khi con người quá quen thuộc thì đồng thời mọi loại sâu bệnh cũng không lạ gì Khang dân 18, chúng sẽ tấn công hễ có điều kiện. Dịch rầy nâu xảy ra, những hộ trồng Khang dân 18 không thất trắng vì cháy rầy thì có cho thu hoạch cũng không được là bao.
Chủ nhiệm Kiên nói: Chúng tôi thử đủ loại giống rồi. Như Bắc thơm 7 gạo ngon thật đấy nhưng không hợp, chịu rầy kém lại nhiễm bạc lá nặng. Thử chán nông dân lại quay về với Khang dân. Mà Khang dân cũng năm được năm mất, gạo lại không ngon, bà con cực chẳng đã mà phải cấy thôi.
Ông chủ nhiệm phấn khích lội xuống ruộng ngắt căng tay một khóm VS1, kiểm tra kỹ từng bông, đếm hạt, ông kết luận năng suất xấp xỉ 6 tấn/ha (2,2 tạ/sào). Hiện thời VS1 một số nơi vừa gặt, hàng xáo cân ngay 7.000đ/kg thóc mà đâu có nhiều để bán, trong khi Khang dân giá chỉ 5.000đ/kg. Chỉ cần làm phép tính đơn giản, cứ cho năng suất 2 giống như nhau, thì chênh lệch giá VS1 đã hơn đứt Khang dân 2 triệu đồng/tấn. NS trung bình 5,5 tấn/ha đồng nghĩa lợi nhuận VS1 tăng thêm 11 triệu đồng/ha, chưa nói VS1 kháng sâu bệnh tốt hơn nên chi phí dùng thuốc BVTV giảm xuống, sản phẩm an toàn hơn, lại ngắn hơn Khang dân 3-5 ngày là điều kiện tiên quyết đảm bảo vụ đông.
Đây mới là vụ đầu tiên HTX Thanh Lãng thử nghiệm giống lúa VS1, nhưng sản xuất thử mà tới 20ha thì phải có lý do mà Ban quản trị HTX đã tính toán kỹ. Là bởi vì họ đã tham quan chán, nhất là bên xã Phú Xuân kề bên đồng đất từa tựa nhau đã làm VS1 thắng lợi từ vụ đông xuân trước đó. Thực tế đã minh chứng VS1 vừa đảm bảo năng suất khá, kháng sâu bệnh tốt, gạo ngon thị trường ưa chuộng, lại ngắn ngày nữa thì còn lựa chọn nào bằng.
Đồng đất Thanh Lãng vàn cao, có phong trào làm vụ đông nhiều năm qua; xã có trên 600 ha đất canh tác thì diện tích cây vụ đông bao giờ cũng đạt trên dưới 350 ha, chủ yếu đậu tương. Ông chủ nhiệm vung tay khoát một cung về đồng lúa VS1 sắp gặt, nói với tôi: Mươi hôm nữa các anh về đây sẽ lại là một màu xanh của đậu tương. Dân chúng tôi gặt đến đâu tra ngay đậu tương vào gốc rạ đến đó, cho nên thời vụ là rất quan trọng và giống ngắn ngày là lựa chọn hàng đầu. Chúng tôi tính kỹ rồi, công thức là 2 vụ lúa VS1 hàng hóa + 1 vụ đậu tương đông, cũng là hàng hóa đang hút thị trường. Anh thử nghĩ xem, 2 lúa VS1 vứt đâu chả được 12 tấn/ha, bán thu 80 triệu; 1 vụ đậu tương mèng cũng 15-17 triệu nữa. Cánh đồng 100 triệu/ha chính là đây!
Khi chúng tôi về Vĩnh Phúc cũng là thời điểm tivi đang quảng bá cho bộ phim sắp khởi chiếu: Bí thư Tỉnh ủy. Một bộ phim dài đến 50 tập, xây dựng hình tượng đồng chí Kim Ngọc khi xưa, người mà trước hay sau công chúng đều yêu mến, chắc chắn bà con đón xem từng tập. Người ta nhớ ông Kim Ngọc khoán hộ là nhớ đến cái nôi đổi mới Vĩnh Phú, hay Phú Thọ, Vĩnh Phúc bây giờ. Tôi theo dõi nông nghiệp chưa hẳn đã lâu nhưng cũng đủ kịp ngồi hàn huyên với 4 đời giám đốc sở nông nghiệp Vĩnh Phúc thời kỳ nông dân được giao toàn quyền suy nghĩ trên đường cày của họ.
Nhớ khoảng 10 năm trước, từ ông Nguyễn Văn Hòa, rồi sau đó là ông Phùng Quang Hùng làm giám đốc sở, các vị đều là những người say sưa tìm những hướng đi mới cho nông nghiệp. Vĩnh Phúc từng có những mũi nhọn kinh tế nông nghiệp lẫy lừng, nào trồng dâu, trồng nấm, chương trình 6 cây 3 con, kể cả việc miễn thuế nông nghiệp hay miễn thủy lợi phí, nơi đây cũng thí điểm đầu tiên, có thất bại và có thành công nhưng có lẽ cho đến bây giờ nông nghiệp Vĩnh Phúc vẫn nhiều trăn trở tìm hướng đi với mong muốn làm sao nông dân bật lên khi mà tỉnh nhà công nghiệp đã khá vững chãi. Vĩnh Phúc không thiếu tiền đầu tư cho nông nghiệp, vấn đề là cách đầu tư thế nào. Nhìn từ Nghị quyết phát triển nông nghiệp của Vĩnh Phúc, thấy thì ra tỉnh đang hướng vào đầu tư trọng điểm, ưu tiên vùng sản xuất hàng hóa.
| Đến nay VS1 đã có mặt nhiều tỉnh miền Bắc như Nam Định, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nội, Vĩnh Phúc… GS.TS Trần Duy Quý, nguyên Viện trưởng Viện Di truyền NN đánh giá VS1 – giống 5 tốt: Năng suất, chất lượng, chống chịu, ngắn ngày, gạo ngon. |
Bà Hằng nói tiếp: "Cho đến khi chúng tôi có được VS1, ngay vụ đầu làm mô hình đã ưng ý: Hầu như các tiêu chí về năng suất, chất lượng, tính chống chịu, thời gian sinh trưởng đều đạt… Nếu như vụ đầu mô hình chỉ 2 ha ở HTX Phú Xuân mùa 2009 thì vụ xuân 2010 HTX này đăng ký làm hẳn mô hình 20 ha. Lúa quá đẹp, từ hình dạng cây, bộ lá đòng, bông. Giống lại chịu rét tốt nên khi trỗ không bị đen hạt và mất đầu bông như Khang dân hay Bắc thơm 7. Hạt rất sáng và chắc. Tổng kết mô hình chúng tôi tổ chức xát và nấu cơm VS1 ngay cho đại biểu đến từ các huyện cùng toàn thể bà con nông dân.
Hôm đó ai cũng nức nở: cơm VS1 mềm mà dai, ngọt đậm lại có mùi thơm nhẹ. Thế là bước vào vụ sau tức là mùa 2010 này, huyện nào cũng thử nghiệm VS1, tổng diện tích lên đến gần 200 ha, có HTX làm thử với diện tích lớn ngay như Trung Nguyên – Yên Lạc 40 ha, Vũ Kiên – Vĩnh Tường 30 ha, Phú Xuân và Thanh Lãng – Bình Xuyên trên 20 ha… Hiếm có một giống mới nào lại được chấp nhận ra sản xuất nhanh như vậy. Đơn giản, bởi đây là giống hội đủ nhiều yếu tố để thành vùng hàng hóa".
| Hướng dẫn gieo trồng lúa VS1: Đặc điểm giống: - Cao cây từ 100 - 110 cm, phiến lá đứng, dầy, lá đòng lòng mo, đẻ nhánh khá, khóm gọn. - Thời gian sinh trưởng: Vụ xuân muộn từ 120 – 125 ngày; vụ mùa từ 95 – 100 ngày. - Năng suất trung bình: 55 - 60 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 65 – 70 tạ/ha. Hạt nhỏ, thon dài, màu vàng sáng, khối lượng 1.000 hạt 21 – 22 gram, chất lượng gạo tốt, cơm mềm, vị đậm, có mùi thơm nhẹ. - Cứng cây, chống đổ tốt, chống chịu khá với một số sâu bệnh hại chính (đạo ôn, khô vằn, bạc lá…), khả năng thích ứng rộng. Yêu cầu kỹ thuật: - Thích hợp loại đất chân vàn, vàn cao. - Thích hợp trà xuân muộn và mùa sớm ở các tỉnh phía Bắc. - Mật độ cấy: 50 – 55 khóm/m2, 2 – 3 dảnh/khóm, cấy nông tay. - Phân bón cho 1 ha: 8 - 10 tấn phân chuồng + 200 – 220 kg đạm urê + 450 – 500 kg supe lân + 140 – 160 kg kaliclorua. - Cách bón: Bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân + 40% đạm + 50% kali; Bón thúc lần 1(khi lúa hồi xanh): 50% đạm; Bón thúc lần 2 (trước trỗ 20- 25 ngày): bón nốt lượng phân còn lại. - Chăm sóc: Phòng trừ sâu bệnh, chế độ nước và chăm sóc như các giống khác. |
Các địa phương có nhu cầu phát triển giống lúa VS1, liên hệ Cty Cổ phần Giống cây trồng Trung ương, Phương Mai - Đống Đa – Hà Nội. Điện thoại: 04.38523294; 0913207662; 0913580247 – Fax: 04.38527996.
(Theo Báo NNVN)